- Ngân hàng Chính sách xã hội - https://vbsp.org.vn -

Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV

Posted By Ban Hợp tác quốc tế và Truyền thông On 13/04/2026 @ 3:56 chiều In Công tác Đảng | Comments Disabled

18 [1]

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo hội nghị

Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp từ điểm cầu Trung ương tại Hội trường Diên Hồng; kết hợp trực tuyến tới 36.323 điểm cầu với gần 2,2 triệu đại biểu dự.

Hội nghị được truyền hình, phát thanh trực tiếp trên các kênh, sóng của Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các nền tảng số.

Dự hội nghị tại điểm cầu Trung ương còn có các đồng chí: Nguyên Chủ tịch nước Lương Cường; Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; nguyên Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú.

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dự tại điểm cầu Tây Ninh.

12 [2]

Các đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu Trung ương

Dự hội nghị tại các điểm cầu có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; Bí thư Trung ương Đảng; nguyên Bí thư Trung ương Đảng; Ủy viên Trung ương Đảng; nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; các đồng chí Ủy viên Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương; các đồng chí Bí thư, Phó Bí thư, Ủy viên Ban Thường vụ, Ủy viên Ban Chấp hành các tỉnh ủy, thành ủy.

Tư duy đổi mới trong công tác xây dựng Đảng

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương truyền đạt chuyên đề “Quy định thi hành Điều lệ Đảng”.

Giới thiệu những nội dung cốt lõi và điểm mới của Quy định số 20-QĐ/TW do Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành ngày 8/4/2026, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh, quy định này được xây dựng trên cơ sở bám sát Điều lệ Đảng, kế thừa những nội dung đã được thực tiễn kiểm nghiệm, đồng thời bổ sung, cập nhật các vấn đề mới phát sinh nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.

13 [3]

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc truyền đạt chuyên đề “Quy định thi hành Điều lệ Đảng”

Về cấu trúc, Quy định gồm 33 mục, trong đó giữ nguyên 12 mục như Quy định số 294-QĐ/TW, ngày 26/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và bổ sung, sửa đổi nhiều nội dung cụ thể về: Trình độ học vấn của người vào Đảng; về thời hạn tổ chức lễ kết nạp và công nhận đảng viên chính thức; về xử lý các trường hợp kết nạp người vào Đảng và công nhận đảng viên chính thức sai quy định; về phát thẻ và quản lý, sử dụng thẻ đảng viên; về việc đảng viên xin miễn công tác và sinh hoạt đảng; quy chế làm việc của cấp ủy; thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình…

Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, một trong những điểm mới nổi bật là Ban Chấp hành Trung ương đã bổ sung một số quy định theo thẩm quyền và triển khai thí điểm đối với một số nội dung mới về hệ thống tổ chức của Đảng và lập cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc như: Thí điểm thành lập đảng bộ khối doanh nghiệp ngoài nhà nước ở cấp xã, phường, đặc khu; thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy của đảng bộ cơ sở trực thuộc đảng ủy xã, phường đặc khu; cho đảng ủy của đảng bộ cơ sở trực thuộc đảng ủy doanh nghiệp nhà nước mà trước đây là đảng bộ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng khi có đủ điều kiện…

Bên cạnh đó, bổ sung quy định Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định thành lập cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp khác với quy định trong Quy định thi hành Điều lệ Đảng của 6 đảng bộ mới thành lập ở Trung ương và cấp tỉnh phù hợp với tình hình thực tiễn. Về những nội dung tạo cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi số trong Đảng, Quy định cũng bổ sung một số quy định về: Thực hiện số hóa và quản lý hồ sơ điện tử của đảng viên; xây dựng, cập nhật, quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng dữ liệu đảng viên; chuyển sinh hoạt đảng trên môi trường số… Điều này tạo cơ sở pháp lý để hiện đại hóa công tác quản lý, nâng cao tính minh bạch, tiết kiệm thời gian, chi phí, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cấp ủy và các cơ quan liên quan.

Trong công tác cán bộ, nhiều quy định mới được bổ sung nhằm bảo đảm sự lãnh đạo liên tục của tổ chức đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cấp ủy các cấp. Cụ thể: Chi bộ khuyết, thiếu cả bí thư, phó bí thư, chi ủy viên thì cấp ủy cấp trên trực tiếp xem xét, chỉ định; thí điểm việc cấp ủy cấp trên khi chỉ định nhân sự tham gia cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, giữ các chức danh lãnh đạo cấp dưới trực tiếp thì đồng thời chỉ định tham gia cấp ủy, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư cấp ủy, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp ủy theo cơ cấu của cấp dưới các cấp…

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc khẳng định, Quy định số 20-QĐ/TW thể hiện rõ tư duy đổi mới trong công tác xây dựng Đảng, tăng cường phân cấp, linh hoạt trong tổ chức, đẩy mạnh chuyển đổi số, tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo.

Đồng chí đề nghị các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của Trung ương, cấp ủy các cấp khẩn trương tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy hoàn thành việc thể chế hóa, cụ thể hóa nội dung Quy định thi hành Điều lệ Đảng thành các quy định, hướng dẫn để thực hiện thống nhất trong quý II/2026.

Bước chuyển căn bản trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương trình bày chuyên đề “Những vấn đề mới, cốt lõi của Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 7/4/2026 về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”.

Đồng chí Trần Sỹ Thanh khẳng định tính cấp thiết của việc ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW (thay thế Nghị quyết Trung ương 5 khóa X) và Quy định số 21-QĐ/TW (thay thế Quy định số 296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025), đáp ứng yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

14 [4]

Đồng chí Trần Sỹ Thanh nhấn mạnh, các cấp ủy cần xây dựng kế hoạch cụ thể, gắn trách nhiệm cá nhân, tăng cường tự kiểm tra, tự giám sát từ cơ sở

Về quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết số 05-NQ/TW xác định kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo quan trọng nhất của Đảng, là cơ chế để tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện và kiểm soát quyền lực. Đồng thời, kiểm tra, giám sát phải gắn chặt với công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ; kết hợp giữa “xây” và “chống”; vừa xử lý vi phạm nghiêm minh, vừa bảo vệ, khuyến khích những nhân tố đổi mới, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.

Về mục tiêu, Nghị quyết số 05-NQ/TW hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát gắn với kiểm soát quyền lực; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; ngăn chặn suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; giữ vững kỷ luật, kỷ cương và củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, qua đó nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và hiệu quả quản trị quốc gia.

Để đạt mục tiêu, Nghị quyết số 05-NQ/TW đề ra 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trong đó nổi bật là: Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng; nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; hoàn thiện hệ thống quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; đổi mới tư duy, phương pháp công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, gắn kiểm tra, giám sát với các phương thức kiểm soát quyền lực bảo đảm giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng; chuyển đổi số toàn diện, đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ, trang thiết bị, phương tiện làm việc đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; kiện toàn tổ chức bộ máy; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của ủy ban kiểm tra các cấp; phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan kiểm tra của Đảng với các cơ quan có liên quan…

Đối với Quy định số 21-QĐ/TW, đồng chí Trần Sỹ Thanh nêu rõ, Quy định gồm 7 chương, 35 điều với nhiều điểm mới quan trọng. Trước hết là bổ sung, quy định rõ hơn trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng trong việc ban hành quy chế phối hợp với các cơ quan: công an, thanh tra, kiểm toán, tòa án… tạo điều kiện thuận lợi cho ủy ban kiểm tra khi phối hợp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra các cấp; phân cấp, tăng thẩm quyền cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong việc thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm; bổ sung nguyên tắc, nội dung giải quyết tố cáo phù hợp với tình hình thực tiễn… Một điểm nhấn quan trọng là đẩy mạnh việc phân cấp và tăng thẩm quyền cho cơ sở, đồng thời gắn trách nhiệm của tổ chức đảng khi quyết định kỷ luật hoặc giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng…

Về tổ chức thực hiện, đồng chí Trần Sỹ Thanh nhấn mạnh, các cấp ủy cần xây dựng kế hoạch cụ thể, gắn trách nhiệm cá nhân, tăng cường tự kiểm tra, tự giám sát từ cơ sở; đồng thời chuyển mạnh sang phòng ngừa từ sớm, từ xa, kết hợp giữa xử lý vi phạm và phát hiện, nhân rộng các nhân tố tích cực.

Nâng tầm công tác chính trị, tư tưởng của Đảng

Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương quán triệt chuyên đề “Những nội dung cơ bản của Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng”.

Tập trung làm rõ ý nghĩa, nội dung cốt lõi của Quy định số 19-QĐ/TW ngày 8/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, đồng chí Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh, đây là lần đầu tiên Đảng ban hành một quy định mang tính hệ thống, toàn diện về công tác chính trị, tư tưởng, thể hiện bước phát triển mới về tư duy lý luận và quyết tâm chính trị trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

15 [5]

Đồng chí Trịnh Văn Quyết quán triệt chuyên đề “Những nội dung cơ bản của Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng”

Đồng chí Trịnh Văn Quyết khẳng định, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, công tác chính trị, tư tưởng luôn giữ vai trò nền tảng, quyết định sự thống nhất ý chí và hành động trong Đảng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, không gian mạng, công tác này còn bộc lộ một số hạn chế như: Một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng; việc học tập nghị quyết còn hình thức; năng lực nắm bắt, dự báo và xử lý tình hình tư tưởng chưa kịp thời… Do đó, việc ban hành Quy định là yêu cầu khách quan, nhằm chuyển từ định hướng chung sang quy định cụ thể, có tính bắt buộc và ràng buộc trách nhiệm rõ ràng.

Quy định được xây dựng với kết cấu 5 chương, 16 điều, bao quát toàn diện công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Quy định xác định rõ phạm vi áp dụng đối với toàn bộ tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhấn mạnh đây là nhiệm vụ bắt buộc, không có ngoại lệ. Mục tiêu là xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức; nâng cao bản lĩnh, năng lực và khả năng thích ứng của cán bộ, đảng viên; kiên quyết phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

 

Một nội dung quan trọng là xác lập hệ thống nguyên tắc nền tảng. Nổi bật là yêu cầu giữ vững “bốn kiên định”: Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Đồng thời, nhấn mạnh nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, lâu dài, còn “chống” là thường xuyên, cấp bách. Quy định cũng mở rộng và nâng tầm nội dung công tác chính trị, tư tưởng theo hướng hiện đại. Đặc biệt, Quy định nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ, xây dựng hệ thống dữ liệu để phân tích, dự báo và dẫn dắt dư luận, chuyển từ bị động sang chủ động trong công tác tư tưởng.

Một điểm then chốt là quy định rõ trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu và cán bộ, đảng viên. Cấp ủy chịu trách nhiệm toàn diện trong lãnh đạo công tác chính trị, tư tưởng; người đứng đầu chịu trách nhiệm trực tiếp và cao nhất, không có “vùng an toàn” nếu buông lỏng lãnh đạo. Mỗi cán bộ, đảng viên vừa là đối tượng, vừa là chủ thể trực tiếp, phải chủ động học tập, tuyên truyền, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, không lan truyền thông tin sai trái. Quy định cũng tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.

Quyết tâm cao trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Truyền đạt chuyên đề “Nghị quyết về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới”, đồng chí Lê Minh Trí, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương tập trung làm rõ 3 nội dung lớn.

16 [6]

Đồng chí Lê Minh Trí truyền đạt chuyên đề “Nghị quyết về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới”

Về kết quả sau 20 năm thực hiện, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện và có bước đột phá rõ rệt. Cuộc đấu tranh này được triển khai kiên trì, quyết liệt, đồng bộ, với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Công tác kiểm soát quyền lực ngày càng được tăng cường. Lần đầu tiên Đảng ban hành 5 quy định về kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ; công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán… Công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng có nhiều chuyển biến tích cực, xử lý nhiều vụ án lớn, phức tạp. Quan điểm xử lý cũng có bước phát triển, chú trọng phân loại đối tượng, khuyến khích khắc phục hậu quả để thu hồi tài sản thất thoát…

Từ thực tiễn trên, đồng chí Lê Minh Trí nêu rõ bốn bài học kinh nghiệm quan trọng, gồm: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh và giữ vững thành quả, tập trung kiểm soát những lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đặt công tác phòng, chống tham nhũng dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, đề cao trách nhiệm người đứng đầu; chú trọng phòng ngừa là chính, kết hợp chặt chẽ với phát hiện và xử lý; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và nhân dân, tăng cường giám sát xã hội.

Về những nội dung cốt lõi và điểm mới của Nghị quyết về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 04-NQ/TW), theo đồng chí Lê Minh Trí, Nghị quyết xác định mục tiêu: “Kiên quyết, kiên trì phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ; thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số liên tục trong những năm tới; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, quản trị quốc gia liêm chính, minh bạch, hiện đại”.

Một điểm mới nổi bật là quan điểm xử lý sai phạm linh hoạt, toàn diện hơn, vừa nghiêm minh, không có vùng cấm, vừa nhân văn, thuyết phục; xem xét bối cảnh cụ thể và hiệu quả tổng thể về chính trị, kinh tế, xã hội. Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, khuyến khích đổi mới sáng tạo; có cơ chế giảm nhẹ hoặc miễn trách nhiệm đối với các trường hợp không có động cơ vụ lợi và đã chủ động khắc phục hậu quả.

Nghị quyết số 04-NQ/TW cũng đề ra hệ thống giải pháp phòng ngừa theo phương châm: “không muốn, không thể, không dám, không cần tham nhũng”. Trong đó, trọng tâm là hoàn thiện thể chế, kiểm soát quyền lực chặt chẽ; xây dựng văn hóa liêm chính; tăng cường công khai, minh bạch; đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số; kiểm soát tài sản, thu nhập. Đồng thời đẩy mạnh phòng, chống lãng phí song hành với chống tham nhũng với yêu cầu xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, kém hiệu quả; chống lãng phí thời gian và cơ hội phát triển…

Về yêu cầu thực hiện trong thời gian tới, đồng chí Lê Minh Trí nhấn mạnh, thực hiện đa dạng, linh hoạt các hình thức, phương pháp học tập, nghiên cứu để hiểu đúng, nắm chắc những nội dung cốt lõi, đột phá của Nghị quyết; các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan liên quan chủ động triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm các nhiệm vụ, giải pháp về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực…

Động lực mới cho tăng trưởng nhanh và bền vững

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương giới thiệu chuyên đề “Kết luận số 18-KL/TW, ngày 2/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.

Đồng chí đã làm rõ định hướng chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu nổi bật là phấn đấu tăng trưởng kinh tế “2 con số” gắn với phát triển nhanh, bền vững.

17 [7]

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị đã nêu rõ định hướng chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu nổi bật là phấn đấu tăng trưởng kinh tế “2 con số” gắn với phát triển nhanh, bền vững

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị nêu rõ, Việt Nam đạt nhiều thành tựu quan trọng: Kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng phục hồi mạnh, quy mô nền kinh tế tăng lên 514 tỷ USD, đời sống nhân dân được cải thiện, quốc phòng-an ninh được giữ vững… Tuy nhiên, nền tảng kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc; năng suất và sức cạnh tranh chưa cao, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo chưa tạo đột phá, cơ chế thu hút nguồn lực còn bất cập… Trên cơ sở đó, Kết luận số 18-KL/TW đề ra mục tiêu đến năm 2030: Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Trọng tâm là duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD, kinh tế số chiếm 30% GDP, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 40% GDP…

Về quan điểm chỉ đạo, theo đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Trung ương nhấn mạnh 4 định hướng lớn: Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước; huy động sức mạnh toàn dân, doanh nghiệp và hệ thống chính trị; đổi mới quản trị, phân cấp mạnh mẽ gắn với kiểm soát quyền lực; hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn. Đồng thời, yêu cầu bảo đảm an toàn tài chính quốc gia, quản lý nợ công bền vững và đầu tư công có trọng tâm, tạo lan tỏa.

Để hiện thực hóa các định hướng này, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị nêu một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gồm: Hoàn thiện thể chế và cải cách hành chính, chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, cắt giảm mạnh thủ tục, chi phí tuân thủ; tháo gỡ các vướng mắc pháp lý, đặc biệt trong đất đai, đầu tư, dự án tồn đọng. Đổi mới mô hình tăng trưởng, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính… Cùng với đó là phát triển các thành phần kinh tế; thu hút FDI có chọn lọc; ổn định kinh tế vĩ mô và huy động nguồn lực, phối hợp chính sách tài khóa-tiền tệ linh hoạt; phát triển thị trường vốn; đột phá về khoa học công nghệ và chuyển đổi số, phát triển hạ tầng số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo…

Về tài chính-ngân sách và nợ công, Kết luận số 18-KL/TW yêu cầu quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả thu-chi, phát triển hệ thống thuế hiện đại, tiết kiệm chi thường xuyên, bảo đảm an toàn nợ công. Đồng thời, tăng cường huy động các nguồn lực xã hội, phát triển thị trường vốn và nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Đối với đầu tư công trung hạn, nhấn mạnh nguyên tắc tập trung, không dàn trải; ưu tiên các dự án trọng điểm, có tác động lan tỏa lớn; lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư nhân…

Hành động nhất quán, kỷ luật và hiệu quả

Phát biểu tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm quán triệt, yêu cầu đặt ra sau hội nghị lần này là nắm vững, thấm nhuần, là phải tổ chức triển khai thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm, tạo ra chuyển biến rõ nét trong toàn hệ thống chính trị và lan tỏa thành động lực phát triển trong toàn xã hội.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng các quy định của Đảng là thể chế bản lề bảo đảm Đảng ta vận hành như một khối thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị, nhất là trong bối cảnh đất nước đang đứng trước những cơ hội lớn để bứt phá vươn lên. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải hiểu sâu và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, coi đó là trách nhiệm chính trị trực tiếp của mình; không được phép hiểu khác, làm khác, càng không được vận dụng theo hướng thuận lợi cho riêng mình.

Phải đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững. Nhà nước dịch chuyển từ vai trò nhà đầu tư trực tiếp sang vai trò thiết kế và tạo lập môi trường để mọi nguồn lực trong xã hội được huy động và phân bổ theo tín hiệu thị trường, dưới khuôn khổ thể chế minh bạch, ổn định. Đặc biệt coi trọng việc khơi thông vốn của nhân dân, xem đây là đột phá chiến lược trong giai đoạn mới; không chỉ là nguồn vốn tài chính, mà còn là tổng hòa của trí tuệ, kỹ năng, sức lao động, tinh thần doanh nhân và khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng của hàng chục triệu người dân.

10 [8]

Toàn thể đảng viên đang công tác tại các đơn vị trụ sở chính của NHCSXH dự hội nghị tại điểm cầu NHCSXH

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, kiên quyết khắc phục tư duy cục bộ địa giới hành chính, cục bộ ngành, cục bộ nhiệm kỳ trong quy hoạch phát triển. Quy hoạch phát triển tổng thể phải thể hiện được tư duy tích hợp, đa mục tiêu, dài hạn. Mỗi quy hoạch phát triển địa phương, quy hoạch ngành phải được nhìn trong cấu trúc tổng thể, gắn với liên kết vùng, gắn với tầm nhìn “hướng đông-tỏa tây”, “trục bắc-nam liền dải”. Không được để quy hoạch trở thành nơi phát sinh các lỗ hổng, khoảng trống hoặc mâu thuẫn lợi ích giữa các địa phương, các ngành, các cấp. Chú trọng hơn nữa quy hoạch năng lượng, bảo đảm tự chủ. Dứt khoát chấm dứt tình trạng đầu tư theo phong trào, theo mong muốn chủ quan, cơ chế xin-cho, theo nhiệm kỳ, theo hình thức bề ngoài. Mọi dự án muốn triển khai đều phải được đặt trong quy hoạch tổng thể, xem xét một cách rõ ràng, nghiêm túc.

Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần giải phóng sức sản xuất và khơi thông nguồn lực trong dân; kiến tạo một môi trường phát triển để người dân nhận thấy cơ hội thực sự, có điều kiện thuận lợi để đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh chân chính và gắn bó lâu dài với nền kinh tế; đồng thời các doanh nghiệp nhìn thấy thể chế ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ hợp lý, hạ tầng đồng bộ, khả năng tiếp cận thị trường rộng mở, từ đó tạo ra động lực nội sinh mạnh mẽ, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển bền vững.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương hai cấp; xây dựng cấp xã mạnh về năng lực ra quyết định, mạnh về huy động nguồn lực, mạnh về giám sát và phản hồi; đồng thời để cấp xã trở thành động lực nâng cấp chính quyền cấp tỉnh, mọi nghị quyết, chính sách và dự án phải được chuyển hóa thành hành động cụ thể. Các quyết định phải hướng trực tiếp tới nâng cao chất lượng đời sống người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội và củng cố năng lực cạnh tranh của địa phương.

Khẳng định những nội dung trao đổi là những vấn đề có ý nghĩa định hướng lâu dài, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, các cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao nhất, chủ động hơn, quyết liệt hơn, thực chất hơn, tạo niềm tin và động lực phát triển trong toàn xã hội.

Đáp từ và tiếp thu ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đồng chí Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh, ngay sau hội nghị, các cấp ủy, tổ chức đảng phải tiếp tục quán triệt, tuyên truyền sâu rộng các nghị quyết, quy định, kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ hai; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, giúp mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc bổn phận, trách nhiệm của mình trước Đảng, trước nhân dân, tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động trong toàn Đảng, sự đồng thuận của nhân dân.


Article printed from Ngân hàng Chính sách xã hội: https://vbsp.org.vn

URL to article: https://vbsp.org.vn/hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-nghi-quyet-hoi-nghi-lan-thu-hai-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv.html

URLs in this post:

[1] Image: https://vbsp.org.vn/hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-nghi-quyet-hoi-nghi-lan-thu-hai-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv.html/18-62

[2] Image: https://vbsp.org.vn/hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-nghi-quyet-hoi-nghi-lan-thu-hai-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv.html/12-240

[3] Image: https://vbsp.org.vn/hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-nghi-quyet-hoi-nghi-lan-thu-hai-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv.html/13-185

[4] Image: https://vbsp.org.vn/hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-nghi-quyet-hoi-nghi-lan-thu-hai-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv.html/14-141

[5] Image: https://vbsp.org.vn/hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-nghi-quyet-hoi-nghi-lan-thu-hai-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv.html/15-103

[6] Image: https://vbsp.org.vn/hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-nghi-quyet-hoi-nghi-lan-thu-hai-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv.html/16-86

[7] Image: https://vbsp.org.vn/hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-nghi-quyet-hoi-nghi-lan-thu-hai-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv.html/17-77

[8] Image: https://vbsp.org.vn/hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-nghi-quyet-hoi-nghi-lan-thu-hai-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv.html/10-242

Copyright © 2012 Vietnam Bank for Social Policies. All rights reserved.