ThS. Hoàng Thị Chương
Phó Giám đốc Ban Tín dụng HSSV&CĐTCSK
Tóm tắt: Chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm là một trong những chương trình tín dụng chính sách có quy mô lớn và tác động sâu rộng của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH). Trên cơ sở sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, thống kê mô tả, so sánh và khảo sát khách hàng vay vốn, cán bộ NHCSXH, các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác và chính quyền địa phương, bài viết đánh giá thực trạng triển khai chương trình trong toàn hệ thống NHCSXH giai đoạn 2021 – 2025. Kết quả nghiên cứu cho thấy chương trình không ngừng được mở rộng về quy mô nguồn vốn, doanh số cho vay và dư nợ, góp phần tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm cho hàng triệu lao động trên cả nước. Trên cơ sở phân tích thực trạng triển khai chương trình trong toàn hệ thống NHCSXH, bài viết đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm trong thời gian tới.
Từ khóa: tín dụng chính sách xã hội, tạo việc làm, giải quyết việc làm, duy trì việc làm, NHCSXH.
1. Đặt vấn đề
Việc làm luôn là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Tạo việc làm bền vững không chỉ giúp người lao động nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống mà còn góp phần giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng với những tác động từ biến động kinh tế toàn cầu, yêu cầu hỗ trợ người dân tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm ngày càng trở nên cấp thiết.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển thị trường lao động, hỗ trợ tạo việc làm và giảm nghèo bền vững, NHCSXH đã triển khai chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm trên phạm vi toàn quốc. Qua hơn 20 năm triển khai, chương trình đã trở thành một trong những chương trình tín dụng chính sách quan trọng, tạo điều kiện cho người lao động, hộ gia đình và cơ sở sản xuất kinh doanh tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao thu nhập.
Giai đoạn 2021 - 2025, chương trình tiếp tục được mở rộng mạnh mẽ về quy mô nguồn vốn và dư nợ, trở thành một trong những chương trình tín dụng chính sách có quy mô lớn nhất trong hệ thống NHCSXH, góp phần hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm cho hàng triệu lao động trên cả nước. Kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu cho thấy phần lớn khách hàng đánh giá vốn vay đã giúp tạo việc làm ổn định, nâng cao thu nhập và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới, chương trình vẫn còn một số khó khăn như nguồn vốn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay vốn ngày càng tăng; hiệu quả sử dụng vốn giữa các vùng, địa phương còn chưa đồng đều; việc gắn kết giữa tín dụng chính sách với đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm chưa thực sự chặt chẽ.
Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm trong hệ thống NHCSXH có ý nghĩa quan trọng, góp phần phát huy hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững và bảo đảm an sinh xã hội trong giai đoạn mới.
2. Thực trạng hiệu quả cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm trong hệ thống NHCSXH
2.1. Khái quát tình hình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm
Trong giai đoạn 2021 - 2025, chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm có sự tăng trưởng mạnh cả về quy mô nguồn vốn, doanh số cho vay và dư nợ. Dư nợ chương trình tăng từ 39.946 tỷ đồng năm 2021 lên 137.591 tỷ đồng năm 2025, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 36%/năm. Đây là mức tăng trưởng cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng chung của nhiều chương trình tín dụng chính sách khác.
Nguồn vốn cho vay cũng ngày càng được đa dạng hóa. Bên cạnh nguồn vốn từ ngân sách trung ương, nguồn vốn nhận ủy thác từ ngân sách địa phương tăng từ 18.442 tỷ đồng năm 2021 lên 53.427 tỷ đồng năm 2025, tăng gần 2,9 lần. Nguồn vốn huy động của NHCSXH phục vụ chương trình cũng tăng mạnh từ 17.040 tỷ đồng lên 79.523 tỷ đồng trong cùng kỳ.
Doanh số cho vay giai đoạn 2021 - 2025 đạt gần 200 nghìn tỷ đồng. Riêng năm 2025, doanh số cho vay đạt gần 58 nghìn tỷ đồng, là mức cao nhất từ trước đến nay. Nguồn vốn tín dụng chính sách đã hỗ trợ hàng triệu lượt khách hàng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao thu nhập.
Bên cạnh sự gia tăng về quy mô tín dụng, chất lượng tín dụng chương trình tiếp tục được duy trì ổn định. Tỷ lệ nợ quá hạn luôn ở mức rất thấp so với tổng dư nợ, phản ánh hiệu quả quản lý vốn và ý thức trả nợ của khách hàng vay vốn. Điều này cho thấy chương trình không chỉ phát triển về quy mô mà còn bảo đảm chất lượng tín dụng và tính bền vững trong quá trình triển khai.
2.2. Hiệu quả cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm
2.2.1. Hiệu quả định lượng
Giai đoạn 2021 - 2025, chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm đạt được nhiều kết quả tích cực cả về quy mô tín dụng, số lượng đối tượng thụ hưởng và kết quả tạo việc làm. Dư nợ chương trình tăng liên tục từ 39.946 tỷ đồng năm 2021 lên 137.591 tỷ đồng năm 2025, tăng 97.645 tỷ đồng sau 5 năm, tương ứng tăng hơn 3,4 lần. Tốc độ tăng trưởng dư nợ duy trì ở mức cao, cho thấy khả năng mở rộng tín dụng và đáp ứng nhu cầu vốn của người dân ngày càng được nâng lên.Doanh số cho vay trong giai đoạn 2021 - 2025 đạt gần 200 nghìn tỷ đồng, góp phần hỗ trợ hàng triệu lượt khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao thu nhập. Số lượng khách hàng còn dư nợ tăng từ 918 nghìn khách hàng năm 2021 lên hơn 1,48 triệu khách hàng năm 2025, phản ánh phạm vi bao phủ của chương trình ngày càng được mở rộng.
Chương trình cũng đạt được kết quả tích cực về tạo việc làm. Trong giai đoạn nghiên cứu, nguồn vốn tín dụng chính sách đã hỗ trợ tạo mới, duy trì và mở rộng việc làm cho hàng triệu lao động trên cả nước. Riêng năm 2025, chương trình hỗ trợ tạo việc làm cho hơn 802 nghìn lao động. Đây là kết quả quan trọng, góp phần giảm thất nghiệp, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.
Bên cạnh việc mở rộng quy mô tín dụng, chất lượng tín dụng chương trình tiếp tục được duy trì ổn định. Tỷ lệ nợ quá hạn luôn ở mức thấp, dao động từ 0,12% đến 0,17% tổng dư nợ. Vòng quay vốn tín dụng duy trì ở mức tương đối ổn định, cho thấy nguồn vốn được luân chuyển hiệu quả và phát huy tốt vai trò hỗ trợ tạo việc làm.
Ngoài ra, kết quả khảo sát cho thấy 95% khách hàng đánh giá thu nhập tăng lên sau khi vay vốn; 93% khách hàng cho rằng vốn vay giúp mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh; 88% khách hàng đánh giá vốn vay góp phần tạo việc làm ổn định. Điều này cho thấy chương trình không chỉ mở rộng quy mô tín dụng mà còn tạo ra những tác động tích cực đối với thu nhập và sinh kế của người dân.
2.2.2. Hiệu quả định tính
Kết quả khảo sát cho thấy chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm đã mang lại nhiều tác động tích cực đối với người vay vốn và cộng đồng.
Đối với tiêu chí về tạo việc làm, có 88% khách hàng lựa chọn “Rất đồng ý” và “Đồng ý” với nhận định vốn vay đã giúp tạo, duy trì và mở rộng việc làm ổn định cho người lao động. Điều này cho thấy nguồn vốn tín dụng chính sách đã phát huy hiệu quả trong việc hỗ trợ người dân phát triển sản xuất kinh doanh, tạo sinh kế và ổn định việc làm.
Về tác động đối với thu nhập và đời sống người dân, có tới 95% khách hàng được khảo sát cho rằng thu nhập của người lao động trong gia đình hoặc cơ sở sản xuất kinh doanh tăng lên rõ rệt sau khi vay vốn. Đồng thời, 93% khách hàng đánh giá nguồn vốn vay đã giúp mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thông qua đầu tư thêm máy móc, thiết bị, mở rộng diện tích sản xuất và tăng doanh thu.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy chương trình góp phần nâng cao năng lực phát triển kinh tế của người vay. Có 88% khách hàng đồng ý và rất đồng ý với nhận định sau khi vay vốn họ trở nên chủ động, tự tin hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này cho thấy chương trình không chỉ hỗ trợ nguồn lực tài chính mà còn tạo động lực giúp người dân mạnh dạn đầu tư và nâng cao năng lực quản lý sản xuất kinh doanh.
Đối với các tác động xã hội, có 84% khách hàng đánh giá chương trình góp phần thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao vị thế của các nhóm yếu thế như phụ nữ, người khuyết tật và người dân tộc thiểu số. Đồng thời, 86% khách hàng và 77% đại diện các tổ chức hội, đoàn thể được khảo sát cho rằng chương trình đã góp phần giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và ổn định an ninh, trật tự xã hội tại địa phương.
Về chất lượng tổ chức thực hiện chương trình, phần lớn khách hàng đánh giá tích cực đối với các chính sách cho vay, quy trình thủ tục và chất lượng phục vụ của NHCSXH. Các tiêu chí về tính công khai, minh bạch trong bình xét cho vay, thủ tục vay vốn đơn giản, giải ngân kịp thời và sự tận tình của cán bộ NHCSXH đều nhận được tỷ lệ đồng thuận cao từ người được khảo sát.
Những kết quả trên cho thấy chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm không chỉ mang lại hiệu quả rõ nét về mặt kinh tế mà còn tạo ra những tác động xã hội tích cực, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, giảm nghèo bền vững và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
3. Đánh giá hiệu quả cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm trong hệ thống NHCSXH
a) Những kết quả đạt được
- Chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm đã khẳng định vai trò là một trong những chương trình tín dụng chính sách quan trọng của Nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo việc làm, giảm nghèo bền vững và bảo đảm an sinh xã hội. Nguồn vốn tín dụng ưu đãi đã hỗ trợ hàng triệu lao động phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao thu nhập.
- Chương trình mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ nét. Nguồn vốn vay đã góp phần hình thành và phát triển nhiều mô hình sản xuất kinh doanh, hợp tác xã, cơ sở sản xuất và doanh nghiệp siêu nhỏ; hỗ trợ chuyển đổi sinh kế, mở rộng ngành nghề, duy trì và phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh sau thiên tai, dịch bệnh; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và phát triển kinh tế nông thôn.
- Chất lượng tín dụng được duy trì ổn định và an toàn. Tỷ lệ nợ quá hạn luôn được kiểm soát ở mức thấp, phản ánh hiệu quả của mô hình quản lý tín dụng đặc thù, sự phối hợp chặt chẽ giữa NHCSXH, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác và Tổ tiết kiệm và vay vốn trong quản lý, giám sát và thu hồi nợ.
- Đối tượng thụ hưởng ngày càng được mở rộng, bao phủ hầu hết các nhóm chính sách như người lao động, hộ gia đình, thanh niên khởi nghiệp, người dân tộc thiểu số, phụ nữ, người khuyết tật và các nhóm yếu thế khác. Thủ tục vay vốn từng bước được cải tiến theo hướng đơn giản, công khai và thuận tiện hơn cho người dân.
- Mô hình tổ chức và phương thức quản lý tín dụng chính sách phát huy hiệu quả. Sự phối hợp giữa NHCSXH, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội và Tổ tiết kiệm và vay vốn đã tạo nên cơ chế quản lý, giám sát cộng đồng hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng và hiệu quả sử dụng vốn.
- Chương trình không chỉ tạo việc làm và nâng cao thu nhập mà còn góp phần thúc đẩy bình đẳng giới, hỗ trợ các nhóm yếu thế, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và ổn định an ninh, trật tự xã hội tại địa phương.
b) Những tồn tại, hạn chế
- Khung cơ chế, chính sách cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm vẫn còn một số bất cập và chưa thực sự đồng bộ với các quy định pháp luật hiện hành. Một số quy định về đối tượng vay vốn, điều kiện vay vốn, hồ sơ thủ tục và cơ chế quản lý chương trình chưa còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
- Nguồn vốn cho vay mặc dù tăng trưởng qua các năm nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay vốn ngày càng lớn của người dân và cơ sở sản xuất kinh doanh. Mức cho vay tối đa đối với một số đối tượng còn thấp so với nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh trong điều kiện hiện nay.
- Hiệu quả sử dụng vốn và khả năng tiếp cận vốn giữa các vùng, địa phương và nhóm đối tượng còn có sự chênh lệch. Một số phương án sản xuất kinh doanh còn nhỏ lẻ, thiếu liên kết thị trường, hiệu quả chưa cao và chưa hình thành được các mô hình sản xuất quy mô lớn, bền vững.
- Công tác phối hợp tổ chức thực hiện chương trình tại một số địa phương còn chưa đồng bộ. Việc bố trí nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác sang NHCSXH còn hạn chế; hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn và hỗ trợ người vay ở một số nơi chưa thực sự hiệu quả.
- Năng lực sản xuất kinh doanh của một bộ phận người vay vốn còn hạn chế, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiều hộ vay còn thiếu kiến thức quản lý, kỹ thuật sản xuất và khả năng tiếp cận thị trường nên hiệu quả sử dụng vốn chưa cao.
- Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động cho vay vẫn chưa đồng bộ. Một số quy trình nghiệp vụ còn thực hiện thủ công, việc số hóa hồ sơ, quản lý dữ liệu và cung cấp dịch vụ ngân hàng số cho khách hàng còn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
c) Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
- Nguyên nhân chủ quan
+ Công tác tham mưu, điều hành và tổ chức thực hiện chương trình tại một số địa phương chưa thực sự linh hoạt, việc phối hợp giữa các đơn vị liên quan còn chưa đồng bộ.
+ Khối lượng công việc lớn trong khi nguồn nhân lực còn hạn chế, ảnh hưởng đến công tác thẩm định, kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay.
+ Năng lực quản lý, sử dụng vốn và xây dựng phương án sản xuất kinh doanh của một bộ phận người vay còn hạn chế; công tác kiểm tra, đánh giá hiệu quả sau cho vay và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chương trình chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
- Nguyên nhân khách quan
+ Biến động của nền kinh tế, thị trường lao động, giá cả nguyên vật liệu, thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của người vay.
+ Hệ thống cơ chế, chính sách liên quan đến việc làm, giảm nghèo và tín dụng ưu đãi còn một số nội dung chưa đồng bộ; một số quy định pháp luật chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn triển khai chương trình.
+ Điều kiện hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ hỗ trợ sản xuất và trình độ ứng dụng công nghệ tại một số địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thị trường và hiệu quả sử dụng vốn vay của người dân.
4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm trong hệ thống NHCSXH
Thông qua khảo sát đối với khách hàng vay vốn, cán bộ NHCSXH, các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác và chính quyền địa phương, đa số ý kiến đều đánh giá chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm đã phát huy hiệu quả tích cực trong việc tạo việc làm, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống người dân. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chương trình. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp trọng tâm sau:
Một là: Hoàn thiện cơ chế, chính sách về cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm
Tiếp tục rà soát, nghiên cứu hoàn thiện các quy định liên quan đến chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm theo hướng đồng bộ với Luật Việc làm năm 2025 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Nghiên cứu điều chỉnh các quy định về đối tượng vay vốn, điều kiện vay vốn, mức cho vay, thời hạn cho vay và cơ chế bảo đảm tiền vay phù hợp với yêu cầu thực tiễn và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, giám sát và đánh giá hiệu quả chương trình theo hướng nâng cao chất lượng tín dụng và hiệu quả sử dụng vốn.
Hai là: Tăng cường nguồn lực cho chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm
Tiếp tục tham mưu Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phương quan tâm bố trí nguồn vốn cho chương trình; ưu tiên bổ sung nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, đặc biệt là nguồn vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm và nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác sang NHCSXH.
Đồng thời, đẩy mạnh huy động các nguồn vốn hợp pháp khác nhằm mở rộng quy mô chương trình, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vay vốn ngày càng tăng của người lao động, hộ gia đình và cơ sở sản xuất kinh doanh. Khuyến khích các địa phương có điều kiện tăng cường nguồn vốn nhận ủy thác sang NHCSXH để bổ sung nguồn lực cho chương trình trên địa bàn.
Ba là: Nâng cao chất lượng công tác tổ chức thực hiện chương trình
Tiếp tục rà soát, cải tiến quy trình nghiệp vụ theo hướng đơn giản, thuận tiện nhưng vẫn bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trước, trong và sau khi cho vay; chú trọng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn gắn với kết quả tạo việc làm, duy trì việc làm và nâng cao thu nhập của người vay nhằm bảo đảm nguồn vốn phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội.Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác, chính quyền địa phương và Tổ tiết kiệm và vay vốn trong công tác bình xét, quản lý vốn vay và đôn đốc thu hồi nợ. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân về ý nghĩa và hiệu quả của chương trình.
Bốn là: Gắn tín dụng chính sách với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và thị trường lao động
Tăng cường sự phối hợp giữa NHCSXH với các sở, ngành, địa phương trong việc triển khai các chương trình đào tạo nghề, tư vấn việc làm, khởi nghiệp, chuyển giao khoa học kỹ thuật và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm.
Lồng ghép hiệu quả chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm với các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Qua đó tạo điều kiện cho người vay không chỉ được hỗ trợ về vốn mà còn được hỗ trợ toàn diện về kiến thức, kỹ năng và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Năm là: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị chương trình
Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ NHCSXH, đặc biệt là kỹ năng thẩm định dự án, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và quản lý rủi ro tín dụng.
Bên cạnh đó, tăng cường đào tạo, tập huấn cho Ban quản lý Tổ tiết kiệm và vay vốn, cán bộ các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác và cán bộ chính quyền cơ sở nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý, giám sát vốn vay và hỗ trợ người vay trong quá trình triển khai dự án.
Sáu là: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động tín dụng chính sách
Tiếp tục triển khai các giải pháp chuyển đổi số theo Chiến lược phát triển NHCSXH đến năm 2030. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giám sát, theo dõi khách hàng vay vốn và đánh giá hiệu quả chương trình.
Đẩy mạnh phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình giao dịch với NHCSXH; đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ, giảm chi phí giao dịch và tăng cường tính minh bạch trong hoạt động tín dụng chính sách.
Bảy là: Tăng cường công tác đánh giá tác động và nhân rộng các mô hình sử dụng vốn hiệu quả
Thường xuyên tổ chức đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm trên phạm vi toàn quốc cũng như tại từng địa phương. Trên cơ sở đó, kịp thời phát hiện các mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả để tuyên truyền, nhân rộng.
Đồng thời, xây dựng cơ sở dữ liệu về các mô hình sử dụng vốn vay hiệu quả, tạo việc làm bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân nhằm lan tỏa kinh nghiệm, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của chương trình trong toàn hệ thống NHCSXH.
Chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm là một trong những chương trình tín dụng chính sách quan trọng của NHCSXH, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững và bảo đảm an sinh xã hội. Mặc dù còn một số hạn chế về nguồn vốn, cơ chế chính sách và chất lượng tổ chức thực hiện, chương trình vẫn khẳng định hiệu quả tích cực về kinh tế - xã hội. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chương trình, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tạo việc làm và phát triển sinh kế bền vững trong giai đoạn tới.