Tọa đàm “Vốn cho đồng bào DTTS – Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa đồng bằng và miền núi”

25/05/2018
(VBSP News) Chiều ngày 24/5/2018, tại Hà Nội Báo Đại biểu nhân dân phối hợp với NHCSXH tổ chức buổi toạ đàm trực tuyến “Vốn cho đồng bào DTTS - Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo miền núi và đồng bằng”. Tham dự buổi toạ đàm, về phía NHCSXH có Phó Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Lý, cùng các khách mời gồm: Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Nguyễn Lâm Thành; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Quốc hội Bùi Sĩ Lợi; Vụ trưởng Vụ Chính sách dân tộc - Ủy ban Dân tộc Bùi Văn Lịch; Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Trà Vinh Thạch Phước Bình; ĐBQH tỉnh Gia Lai Rơ Mah Tuân; Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu Tống Thanh Bình.
Quang cảnh buổi toạ đàm

Quang cảnh buổi toạ đàm

Tín dụng chính sách là điểm sáng trong chương trình xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam; là thành tựu trong an sinh xã hội mà bạn bè quốc tế đánh giá cao. Đến ngày 31/3/2018, NHCSXH quản lý trên 20 chương trình tín dụng chính sách và các dự án. Trong đó, trên 1.478 nghìn khách hàng là hộ đồng bào  DTTS đang thụ hưởng hầu hết các chương trình tín dụng tại NHCSXH.

Đặc biệt, hơn 10 năm qua, dưới tác động tổng hòa của các chính sách dân tộc và các chương trình giảm nghèo khác, các chương trình tín dụng dành riêng cho hộ đồng bào DTTS theo các Quyết định 54/2012/QĐ-TTg, Quyết định 29/2013/QĐ-TTg, Quyết định 755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ, Quyết dịnh số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ đã giúp gần 349 nghìn lượt hộ đồng bào được vay vốn phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống, yên tâm bám đất, bám bản; góp phần làm thay đổi căn bản diện mạo nông thôn, vùng  DTTS, miền núi; đưa tỷ lệ hộ nghèo cả nước giai đoạn 2005 – 2017 giảm từ 22% xuống dưới 7%, đặc biệt là giảm nghèo trong khối đồng bào DTTS.

Bên cạnh những kết quả đạt được, nguồn vốn tín dụng cho đồng bào cũng đứng trước nhiều thách thức như: Việc bố trí vốn chưa kịp thời, chưa bảo đảm nguồn vốn thực hiện theo kế hoạch; mức vay còn thấp, chưa phù hợp tình hình thực tế. Trình độ, tập quán sản xuất và việc sử dụng vốn vào sản xuất của một bộ phận hộ DTTS hiệu quả còn thấp; sản phẩm sản xuất ra không tập trung, khó tiêu thụ, lợi nhuận thấp, đồng tiền thu được không bù đắp đủ chi phí sản xuất dẫn đến khả năng mất vốn cao. Đối tượng vay vốn là hộ  DTTS, hầu hết sinh sống tại những nơi có địa hình hiểm trở, khó khăn, thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thời tiết, biến đổi khí hậu, thiên tai: lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn; giá cả biến động, dẫn đến hộ vay SXKD thua lỗ, không còn khả năng trả nợ NHCSXH…

Với chủ đề “Vốn cho đồng bào DTTS – Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo miền núi và đồng bằng”, chương trình tọa đàm trực tuyến do Báo Đại biểu Nhân dân phối hợp với NHCSXH tổ chức nhằm trao đổi, thu nhận ý kiến ĐBQH, chuyên gia, nhà quản lý, cử tri về hiệu quả hoạt động của vốn tín dụng đối với vùng đồng bào DTTS; khẳng định công tác tín dụng chính sách như một kênh quan trọng góp phần cùng Đảng, Nhà nước thực hiện chính sách giảm nghèo; đặc biệt tìm các giải pháp nhằm tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc được tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách nhiều hơn nữa và sử dụng hiệu quả nguồn tín dụng chính sách, góp phần giảm nghèo bền vững.

Sau đây là toàn bộ nội dung buổi toạ đàm:

Tín dụng chính sách – Tạo sinh kế giảm nghèo cho đồng bào DTTS

Ông Lê Thanh Kim – Phó Tổng Biên tập Báo Đại biểu Nhân dân (Phó TBT Báo ĐBND): Tính đến hết năm 2017, NHCSXH quản lý trên 20 chương trình tín dụng chính sách theo chỉ định của Chính phủ và một số dự án cho vay, trong đó có các chương trình tín dụng dành riêng cho hộ đồng bào DTTS như: Chương trình cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ DTTS đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 – 2015 theo Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ngày 04/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ; Chương trình cho vay vốn hỗ trợ đất sản xuất, đất ở và nước sinh hoạt đến năm 2010 cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn theo Quyết định số 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ; Chương trình cho vay vốn để hỗ trợ đất sản xuất, chuyển đổi nghề và đi xuất khẩu khẩu lao động cho hộ đồng bào DTTS nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn giai đoạn 2013 – 2015 theo Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ; chương trình cho vay hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2017 – 2020 theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016.

Có thể nói, dưới tác động tổng hòa của các chính sách dân tộc và các chương trình giảm nghèo khác, tín dụng chính sách xã hội được coi là nguồn lực “cần thiết”, “kịp thời” tiếp sức cho vùng khó, tạo sinh kế giảm nghèo cho đồng bào DTTS; góp phần không nhỏ làm thay đổi căn bản diện mạo nông thôn, vùng DTTS miền núi.

Phó TBT Báo ĐBND Lê Thanh Kim chủ trì buổi toạ đàm

Phó TBT Báo ĐBND Lê Thanh Kim chủ trì buổi toạ đàm

Câu hỏi đầu tiên, xin được hỏi ông Nguyễn Văn Lý – Phó Tổng Giám đốc NHCSXH, ông có thể nói rõ và cụ thể hơn về những thành công mà các chương trình tín dụng chính sách dành cho đồng bào  DTTS trong thời gian qua?

Phó Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Lý: NHCSXH được Chính phủ giao để chuyển tài vốn tín dụng ưu đãi của Chính phủ và thời gian qua đạt được nhiều kết quả nhưng cũng có nhiều trăn trở. Hiện nay, có gần 1,5 triệu hộ đồng bào DTTS đang có dư nợ các chương trình NHCSXH. Gần 50% số hộ đồng bào DTTS đang dư nợ, tỷ lệ này chung là đạt 26%.

Các chương trình riêng trong 10 năm qua, dưới sự chuyển tải vốn, tập trung làm ăn cùng với sự vào cuộc của hệ thống chính trị thì vốn này bảo toàn tốt. Tỷ lệ nợ quá hạn hiện nay riêng đồng bào DTTS chỉ chiếm 0,46%, tính ra tỷ lệ thu hồi vốn trong mười mấy năm đạt 99,5%, đây là tỷ lệ tương đối cao. Trong các chương trình tín dụng, sản xuất chuyển đổi ngành nghề, vốn cho lao động có thời hạn nước  ngoài, vốn làm nhà, vốn nước sạch, tác động đa chiều đến đồng bào DTTS.

Phó Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Lý trao đổi tại buổi toạ đàm

Phó Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Lý trao đổi tại buổi toạ đàm

Thời gian qua, NHCSXH thường xuyên quan tâm bố trí vốn cho chương trình này. Đặc biệt là vùng đặc biệt khó khăn, nhiều đồng bào DTTS thì ưu tiên bố trí vốn, bố trí nhân tài, vật lực để tổ chức triển khai. Ngoài ra, NHCSXH kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Dân tộc và các Bộ, ngành có liên quan đặc biệt là với sự giám sát của các cơ quan của Quốc hội, qua đó phát hiện nhiều chính sách cần phải chỉnh sửa. Hiện NHCSXH đang triển khai chương trình theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP, Quyết định 2085/QĐ-TTg, kế hoạch 2017 – 2020 của Chính phủ. Hy vọng, với chương trình này sẽ khắc phục được những khiếm khuyết của giai đoạn trước cho đồng bào DTTS để vốn tín dụng phát huy hiệu quả hơn.

Về tác động, hiện tại một số tỉnh, địa phương đồng bào dân tộc rất hồ hởi bởi vốn đã đi vào đời sống đồng bào. Người dân cho rằng, nhờ nguồn vốn này đã cải thiện cuộc sống của họ. Thông qua cách chuyển tải vốn đó là quá trình xã hội hóa, cùng với sự vào cuộc cả hệ thống chính trị đã giúp cho đồng bào tiếp cận được nguồn vốn này. Khi tiếp cận được vốn, lại được giúp đỡ của các ngành các cấp, đặc biệt là hội, đoàn thể, Tổ tiết kiệm vốn tại địa phương thông qua hình thức này nên đã tạo nên tác động kép. Mặc dù giảm nghèo còn chậm nhưng cuộc sống của đồng bào yên ổn, làm phên dậu cho đất nước, thắt chặt tình đoàn kết dân tộc.

Những người vay vốn, người công tác ở cơ sở họ cũng cảm ơn Chính phủ vì vốn cho đồng bào đa chiều và tác động kép. Không vì thấy khu vực này phát triển chậm hơn nơi khác để đánh giá sai lệch về vấn đề này là không nên.

Mặc dù chúng ta quan tâm nhiều chương trình trong đó có tín dụng chính sách để giúp cho họ có vốn cải thiện cuộc sống thoát nghèo nhưng tốc độ thoát nghèo ở vùng đồng bào  DTTS bao giờ cũng chậm hơn các khu vực khác. Nguyên nhân vì đâu? Vì khu vực đồng bào DTTS khó khăn, địa hình chia cắt, tiêu thụ sản phẩm khó, trình độ đồng bào DTTS chưa cao. Do đó, cán bộ cơ sở cho rằng, sự ưu tiên của Chính phủ chưa bù được khó khăn của khu vực đồng bào DTTS. Để giảm khoảng cách ở khu vực này với các khu vực miền xuôi thì nên chăng có tư duy, phương pháp, giải pháp đột phá hơn như: không được thiếu vốn, muốn vậy cần có nguồn riêng, có thể từ quyết định của Quốc hội chẳng hạn. Đi kèm với đó nên giảm việc “cho không”, nhiều nơi cho rằng, không nên cho không mà nên tập trung cho đầu tư an sinh chung: đường sá, nhà trẻ, đầu tư tín dụng để phát triển sinh kế, mà phát triển sinh kế thì sẽ tạo ra đột phá.

Hiện nay, NHCSXH có hạn mức áp dụng hộ cận nghèo, hộ nghèo mức tối đa 50 triệu đồng, tối đa 5 năm. Quyết định 2085/QĐ-TTg thời gian tối đa 10 năm. Tôi cho rằng, nên nghiên cứu mức cho vay thêm. Đi kèm với đồng bào DTTS cần có hướng dẫn làm ăn, “cầm tay chỉ việc”. Ngoài ra, tìm mọi cách kết nối cho được tiêu thụ sản phẩm. Phải đột phá, nên biến khó khăn của đồng bào DTTS thành nơi có sản phẩm đột phá có trị giá cao như: dược liệu, du lịch… Muốn có du lịch thì Nhà nước cần đầu tư đường sá, có sở hạ tầng. Thực tế tiêu thụ sản phẩm của người dân khó. Trồng rừng dù cải thiện đời sống của đồng bào nhưng chưa thoát nghèo bền vững.

Ngoài ra, đồng bào DTTS học vấn thường thấp, cần có đột phá, có chương trình đầu tư giáo dục riêng cho đồng bào dân tộc. Trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới thì sản xuất nhỏ lẻ sẽ bị ảnh hưởng. Đầu tư cho giáo dục đào tạo thì hiệu quả hơn, tạo cho người dân khởi nghiệp ở địa phương thì tốt hơn.

Thời gian tới, NHCSXH thì thường xuyên quan tâm ưu tiên vốn cho vùng đồng bào DTTS nghèo. Giao dịch của người dân đều nằm tại xã, và có một số hoạt động thực hiện tại nhà gồm trả lãi và thực hành tiết kiệm. Ví dụ cho vay mua một con trâu, sau 3 năm bán trâu trả nợ coi như thất bại. Chúng tôi đi theo mô hình giúp cho họ thực hành tiết kiệm để vay trâu nhưng lại dùng gà, vịt… bán để trả nợ dần để 3 năm sau thì trâu là của họ. Đây chính là căn cứ để giảm nghèo bền vững cho đồng bào.

Phó TBT Báo ĐBND Lê Thanh Kim: Vốn tín dụng chính sách không chỉ tiếp thêm tiếp sức cho vùng đồng bào DTTS giảm nghèo mà thực tế không ít hộ gia đình đã có cuộc sống ổn định, bước đầu có tích lũy để SXKD, hướng tới làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình; góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa miền núi với đồng bằng, đảm bảo công bằng xã hội. Đặc biệt sau khi Chính phủ có Nghị quyết 30a, các chương trình tín dụng ưu đãi do NHCSXH thực hiện thực sự là kênh dẫn vốn quan trọng, được xem là “bà đỡ” cho các đối tượng khó khăn. Theo số liệu của NHCSXH đã có gần 349 nghìn hộ đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS được vay vốn phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống, yên tâm bám đất, bám bản.

Thưa ông Nguyễn Lâm Thành – Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, là người tham gia xây dựng và giám sát việc thực thi chính sách, ông đánh giá như thế nào về việc thực hiện các chương trình tín dụng chính sách đối với đồng bào DTTS thời gian qua?

Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Nguyễn Lâm Thành: Lâu nay chúng ta loay hoay câu hỏi và câu trả lời: cho bà con “cá hay cần câu”, tôi cho rằng chính sách tín dụng chính là một phương thức để đưa “cần câu” cho bà con. Với tinh thần đó, giai đoạn vừa qua chúng ta đã có bước phát triển rất mạnh trong chính sách hỗ trợ cho vùng đồng bào dân tộc, đặc biệt là liên quan đến đồng bào nghèo. Theo báo cáo của NHCSXH thì có tới 20 chính sách mà đồng bào DTTS và đồng bào nghèo có thể thực hiện được. Qua giám sát của chúng tôi và giám sát của Ủy ban Về các vấn đề xã hội, hộ nghèo có thể hưởng lợi từ ít nhất là 10 chính sách liên quan ở tất cả các lĩnh vực.

Có thể nói rằng đây là một chủ trương đúng đặt ra mục tiêu và kỳ vọng lớn cho sự phát triển. Thứ nhất, chính sách tín dụng đã phủ được hết các vùng và bao quát được hết các đối tượng, hộ nghèo đã được tiếp cận với chính sách, tiếp cận nguồn vốn tín dụng ở các mức độ khác nhau, có những hộ tiếp cận tới 5 – 6 dòng vốn phục vụ cho mục tiêu cải thiện đời sống gia đình. Thứ hai, chúng tôi thấy trong quá trình tổ chức thực hiện đã được các Bộ, ngành, NHCSXH phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội, cấp chính quyền địa phương và cơ sở đã hình thành mạng lưới trong việc triển khai các hoạt động tín dụng cho người dân. Có thể nói đây là một chính sách được triển khai đồng bộ, mang tính hệ thống từ Trung ương đến địa phương. Thứ ba, mặc dù vốn cho đồng bào DTTS hiện nay hơn 1.400 tỷ, chiếm 24% và số lượng liên quan trực tiếp đến chính sách từ giai đoạn 2008 đến nay, từ vấn đề vay vốn cho đến cho nhà ở, nước sạch, đất sản xuất… thì số thu nợ chúng ta rất cao, nợ xấu thấp so với một số nguồn tín dụng khác. Điều đó chứng tỏ bà con nghiêm túc trong việc trả nợ, chứng minh hiệu quả của chính sách đang thực hiện. Thứ tư, thông qua chính sách tín dụng đã góp phần tạo nên sự thay đổi căn bản trong đời sống của đồng bào nghèo, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn. Đây cũng là những điểm nổi bật mà chúng tôi thấy là chính sách tín dụng thời gian qua đã đạt được.

Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Nguyễn Lâm Thành

Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Nguyễn Lâm Thành

Bên cạnh những mặt tích cực thì cũng còn những thách thức đang đặt ra. Thứ nhất, hiện nay là số lượng chính sách khá nhiều, riêng đồng bào dân tộc có đến 10 chính sách liên quan, chưa kể các chính sách gián tiếp. Điều này làm chính sách bị phân tán, nguồn lực định mức thấp đi và chúng ta phải xem xét cơ cấu lại. Thứ hai, hiện nay chính sách chúng ta đang áp dụng chung cho tất cả các vùng miền, tôi nghĩ không phù hợp. ĐBSCL có đặc thù khác, Tây Nguyên có đặc thù khác, miền núi phía Bắc có đặc thù khác, chính sách phải hướng tới thúc đẩy sản xuất và sinh kế và cải thiện điều kiện sống của người dân. Bởi vậy, chúng ta cần có cách xử lý cho từng vùng miền khác nhau. Thứ ba, mặc dù chính sách chúng ta ưu tiên nhưng nguồn vốn cho chương trình này rất thấp, trực tiếp cho đồng bào DTTS chỉ hơn 3.000 tỷ đồng là một con số rất nhỏ so với nhu cầu thực tế của người dân. Và hai chính sách rất quan trọng vừa qua được ban hành hiện nay có hiệu lực đó là liên quan đến Nghị định 75 thì hầu hết các hộ dân vẫn chưa được vay vốn, báo cáo của NHCSXH thì mới giải ngân được 165 tỷ đồng. Và còn Quyết định 2085 ban hành từ năm 2016 thì đến nay mới dư nợ được 16 tỷ đồng, đây là con số quá nhỏ so với nhu cầu của người dân. Đó là những vấn đề mà chúng ta cần xem xét điều chỉnh trong giai đoạn tới.

Phó TBT Báo ĐBND Lê Thanh Kim: Thưa ông Bùi Sĩ Lợi – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội – là người tham gia tích cực trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo đặc biệt là đối với đồng bào DTTS; đồng thời là đại diện cơ quan giám sát và xây dựng chính sách về lĩnh vực này, xin ông cho biết đánh giá của mình về những kết quả tín dụng chính sách đối với đồng bào DTTS thời gian qua?

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Bùi Sĩ Lợi: Giảm nghèo bền vững là chính sách xuyên suốt của Đảng và Nhà nước, thể hiện quan điểm, tính chất xã hội nhân văn sâu sắc. Thành tựu về mặt cơ bản Phó Tổng Giám đốc NHCSXH Nguyễn Văn Lý và Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Nguyễn Lâm Thành đã nêu rất khái quát. Qua giám sát, có 3 điểm để chúng ta hình dung thấy thành tựu, khó khăn, đi tiếp chặng đường để giúp cho đồng bào dân tộc xóa được đói, giảm được nghèo một cách nhanh nhất:

Thứ nhất, đồng bào dân tộc nước ta chiếm 14% dân số, nhưng tỷ lệ tín dụng cho đồng bào dân tộc được vay là 21%. Điều đó đã thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước quan tâm đến bà con dân tộc, coi như đây là nút thắt quan trọng để chúng ta giảm nghèo nhanh và bền vững.

Thứ hai, bình quân người nghèo trên cả nước được vay 56 triệu đồng, đồng bào dân tộc được vay 29 triệu đồng. Đó cũng là sự quan tâm mà chúng ta phải khẳng định.

Thứ ba, hộ nghèo nước ta giảm rất nhanh. Giai đoạn đầu thực hiện chương trình giảm nghèo, theo dõi không thể tưởng tượng được. Bắt đầu thực hiện chương trình giảm nghèo là 53%, nhưng đồng bào dân tộc chiếm hơn 80%, có những vùng đến 90%. Sau một chặng đường dài, kết thúc 2017, cả nước còn 6,7%. Đáng lưu ý, đồng bào dân tộc còn 28% (toàn bộ tỷ lệ nghèo của đồng bào dân tộc so với số nghèo cả nước khoảng 40%).

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Quốc hội Ông Bùi Sĩ Lợi

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Quốc hội Bùi Sĩ Lợi

Thành tựu như vậy, đi một chặng đường dài, khó khăn thách thức nhất của đồng bào dân tộc là gì? Qua giám sát, chúng tôi rút ra mấy vấn đề để chúng ta định hình chính sách. Tôi cho rằng Ủy ban Dân tộc cần nghiên cứu kỹ vấn đề này để bắt đầu định hình lại chính sách của chúng ta như thế nào cho đúng định hướng.

Thứ nhất, khó khăn lớn nhất là nguồn vốn có những lúc chưa đáp ứng được ở một bộ phận, ở vùng nào đó. Nhưng điều quan trọng, tính thời vụ của vốn tín dụng rất quan trọng. Bởi tình thời vụ không bảo đảm dẫn đến cơ hội làm ăn để người nghèo thoát nghèo.

Thứ hai, đồng bào dân tộc bình quân được vay 29 triệu là mức thấp, bởi nghèo đói ở giai đoạn càng về sau đòi hỏi đầu tư càng lớn. Trước đây, chúng ta có thể chỉ cần 5 triệu đồng đầu tư một chỗ làm việc, nay 30 triệu đồng chưa chắc đã được. Trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, chắc chắn việc làm mới không thể đơn giản như vậy.

Thứ ba, hiệu quả trong vay vốn của đồng bào dân tộc, chúng ta rất lưu ý: Vay vốn rất quan trọng nhưng cầm tay chỉ việc, hướng dẫn khoa học – kỹ thuật – công nghệ để chúng ta biến đồng vốn có hiệu quả, lãi suất tăng lên trả được cho nhà nước rất khó khăn.

Thứ tư, qua giám sát chúng tôi thấy, lúc đầu nhiều chính sách “cho không” nên dẫn đến tư tưởng ỷ lại, trông chờ, có tư tưởng chưa muốn thoát nghèo… làm cho người nghèo đồng bào dân tộc không tự mình vươn lên thoát nghèo bền vững. Nếu không thoát nghèo bền vững, câu chuyện thoát nghèo hôm nay, hôm sau không có khả năng giữ được bền vững sẽ lặp lại tái nghèo. Vì vậy, khi thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới và chương trình giảm nghèo bền vững, đề nghị không xây dựng chính sách “đi hàng ngang” mà phải tập trung có trọng tâm, trọng điểm, phân vùng, phân loại để xử lý vấn đề nghèo đói. Đất nước muốn giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo, hộ đói thì dứt khoát phải tập trung trọng điểm vào đồng bào DTTS vùng sâu, vùng xa, biên giởi hải đảo. Đây là yếu tố quan trọng.

Thứ năm, bao nhiêu năm chúng ta phấn đấu giảm nghèo vẫn bị vướng mắc là do chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng đào tạo có vấn đề. Bởi vì học thức, đào tạo chính là một trong những yếu tố quyết định để thoát nghèo nhanh và bền vững.

Phó TBT Báo ĐBND Lê Thanh Kim: Liên quan đến nội dung này, ý kiến của ông Bùi Văn Lịch – Vụ trưởng Vụ Chính sách dân tộc, Ủy ban Dân tộc như thế nào? Xin mời ông!

Vụ trưởng Vụ Chính sách dân tộc Bùi Văn Lịch: Trong quá trình công tác quản lý Nhà nước về công tác dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc thì chúng tôi thấy đối với đồng bào DTTS, ngoài hưởng chính sách chung cho người nghèo còn được Đảng và Nhà nước quan tâm, có những chính sách đặc thù cho đồng bào DTTS để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, trong đó có tín dụng chính sách ưu đãi. Từ năm 2007, bắt đầu từ Quyết định 32/2016/QĐ-TTg đã có sự hỗ trợ riêng mức riêng lãi suất 0% đến 0,1%/tháng, bây giờ là 50% lãi suất của người nghèo trong cả nước.

Rõ ràng tác động của những chính sách, tín dụng chính sách, ưu đãi riêng cho đồng bào DTTS tác động kép, tác động nhiều phía giúp đồng bào phát triển sản xuất, thoát nghèo. Do đó, hiệu quả nhìn thấy rõ.

Tuy nhiên, như ông Nguyễn Lâm Thành đã nói, vấn đề chính sách mình chưa tính tới yếu tố vùng miền, cơ cấu vùng miền. Vùng miền nào có thể tiếp cận với sản xuất hàng hóa và tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất nhất định thì cần rõ ràng mức, cơ chế cũng phải khác, nếu cào bằng thì hiệu quả chỉ có mức độ.

Tôi cho rằng tín dụng chính sách cũng chỉ là một trong những chính sách thôi, để tác động đến phát triển kinh tế – xã hội, giảm nghèo bền vững thì phải đồng bộ các hệ thống chính sách, dân trí…

Theo Quyết định 2085/QĐ-TTg thì trong 4 năm từ 2017 – 2020, vốn vay tín dụng chính sách để thực hiện vấn đền đất sản xuất, chuyển đổi nghề, phát triển kinh doanh nhu cầu trên 12.000 tỷ đồng. Như vậy bình quân mỗi năm phải giải ngân 3.000 tỷ, nhưng từ 2017 đến nay mới bố trí được 1/10 vốn. Hy vọng đến cuối năm sẽ có điều chỉnh.

Vụ trưởng Vụ Chính sách dân tộc - Ủy ban Dân tộc Bùi Văn Lịch

Vụ trưởng Vụ Chính sách dân tộc – Ủy ban Dân tộc Bùi Văn Lịch

Ngoài ra, liên quan đến hạn chế hiệu quả chính sách, ngoài định mức thấp còn có sự cứng nhắc trong phương thức lựa chọn đối tượng và phương thức giải ngân. Chúng ta cứ nhằm vào đúng đối tượng hộ nghèo trong khi hộ nghèo có có thể phát huy đồng vốn nếu không có sự hỗ trợ của doanh nghiệp. Tới đây, nên chăng không chỉ hộ nghèo mới được vay, mà những hộ có kinh nghiệm làm ăn, dẫn dắt những người nghèo để thoát nghèo, sử dụng đồng vốn có hiệu quả cũng được vay vốn. Tôi cho rằng đây cũng là vấn đề cần nghiên cứu cần tính toán. Chúng ta chỉ nhằm vào đúng đối tượng hộ nghèo thì chưa chắc đồng vốn đã hiệu quả tối đa.

Phó TBT Báo ĐBND Lê Thanh Kim: Liên quan đến việc thực hiện tín dụng chính sách đối với đồng bào DTTS thời gian qua tại một địa phương cụ thể, chúng tôi muốn nghe ý kiến trao đổi từ ông Thạch Phước Bình – Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Trà Vinh – một tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống.

Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Trà Vinh Thạch Phước Bình: Trà Vinh là một tỉnh nghèo thuộc khu vực ĐBSCL, hiện có 88.289 hộ dân tộc Khmer, chiếm tỷ lệ trên 32% dân số của tỉnh. Những năm qua, tỉnh đã và đang triển khai nhiều dự án, chính sách của nhà nước nhằm giúp đồng bào Khmer có cơ hội để phát triển kinh tế gia đình, vươn lên thoát nghèo bền vững. Trong đó, nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ được NHCSXH triển khai thực hiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Qua 10 năm (từ 2007 đến nay), doanh số cho vay đạt 3.999 tỷ đồng, với trên 390.000 lượt hộ vay, trong đó doanh số cho vay hộ đồng bào DTTS 1.469 tỷ đồng, với khoảng 150.000 lượt hộ vay. Tổng dư nợ các chương trình tín dụng đến 30/4/2018 là 2.169 tỷ đồng, tăng 1.732 tỷ đồng so với năm 2007, tăng gấp 5 lần; tỷ lệ tăng bình quân hàng năm là 18%, với 173.399 hộ dư nợ. Riêng hộ đồng bào DTTS được thụ hưởng hầu hết các chương trình tín dụng tại NHCSXH, cụ thể: có 62.693 khách hàng là hộ đồng bào DTTS đang còn dư nợ, chiếm 36% số hộ dư nợ tại NHCSXH, với dư nợ là 717 tỷ đồng, chiếm 33% tổng dư nợ, dư nợ bình quân hộ DTTS là 11,4 triệu đồng/hộ, đặc biệt, tỷ lệ nợ quá hạn chiếm tỷ lệ thấp.

Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Trà Vinh Thạch Phước Bình

Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Trà Vinh Thạch Phước Bình

Với cơ chế hỗ trợ từ “cho không” sang “cho vay”, từ cho vay không lãi, đến cho vay có lãi suất rất ưu đãi (0,1%/tháng) và hiện nay là 0,275%/tháng (bằng 50% lãi suất cho vay hộ nghèo); mức vay hợp lý và tăng dần qua từng giai đoạn, thời gian vay phù hợp với chu kỳ sản xuất… đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ đồng bào DTTS xây dựng được nhiều mô hình SXKD hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống, giảm nghèo, khắc phục dần tư tưởng trông chờ, ỷ lại.

Ngoài ra, do đặc thù có đông đồng bào dân tộc và một số đối tượng không được hưởng lợi từ các Quyết định của Chính phủ, trong thời gian qua tỉnh đã ban hành các chính sách đối với hộ nghèo cũng như đồng bào DTTS được thụ hưởng như: Nghị quyết số 17/2012/NQ-HĐND và Nghị quyết số 19/2014/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về việc hỗ trợ 30% mệnh giá mua bảo hiểm y tế cho người thuộc hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh Trà Vinh; Quyết định số 11/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh về quy định hỗ trợ đất ở cho hộ nghèo (ngoài đối tượng theo Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg) đến năm 2015 trên địa bàn tỉnh. Cùng với chương trình cho vay vốn chính sách ưu đãi, thời gian qua, tỉnh Trà Vinh còn quan tâm bố trí kinh phí để xây dựng nhiều công trình giao thông nông thôn, trường mẫu giáo tại các địa phương có đông đồng bào dân tộc.

Bên cạnh đó, tỉnh cũng đang triển khai thực hiện Đề án chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS giai đoạn 2017 – 2020 theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg trên địa bàn, với tổng kinh phí của Đề án được phê duyệt là 459 tỷ đồng, trong đó, ngân sách Trung ương hỗ trợ 63 tỷ đồng, vốn vay từ NHCSXH 390 tỷ đồng, số tiền còn lại do ngân sách địa phương đối ứng. Mục tiêu của Đề án là sẽ giúp 16.000 lượt hộ đồng bào DTTS nghèo trên địa bàn tỉnh được hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, chuyển đổi nghề, nước sinh hoạt và vay vốn tín dụng ưu đãi phát triển sản xuất. Riêng năm 2018, theo lộ trình Đề án tỉnh sẽ triển khai nguồn vốn khoảng 242 tỷ đồng, cho khoảng 5.500 lượt hộ đồng bào dân tộc vay, để hỗ trợ đất ở cho 227 lượt hộ, chuyển đổi nghề cho 4.676 lượt hộ, hỗ trợ đất sản xuất cho 324 lượt hộ, hỗ trợ tín dụng ưu đãi đối với 325 lượt hộ,…

Thông qua mô hình tổ chức và phương thức chuyển tải vốn tín dụng ưu đãi của NHCSXH, thực sự là “cầu nối” giữa cấp ủy, chính quyền địa phương với quần chúng nhân dân, đặc biệt là đối với khối đồng bào DTTS; qua đó, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị – xã hội, xây dựng nông thôn mới, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trên địa bàn, giúp đồng bào các dân tộc ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, có thể khẳng định rằng, hoạt động tín dụng chính sách xã hội đã góp phần quan trọng vào thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo vùng DTTS hằng năm đạt từ 3 – 4%. Nếu như năm 2007 tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh chiếm khá cao 23,65% (54.841 hộ), thì đến cuối năm 2017 đã giảm xuống còn 8,41% (23.078 hộ), giảm 15,24%, tương ứng giảm 31.763 hộ. Riêng năm 2017, Trà Vinh đã giảm được gần 7.300 hộ nghèo (tương đương 2,75%) so với năm 2016; trong đó, có hơn 4.000 hộ đồng bào dân tộc Khmer thoát nghèo.

Nguồn lực quan trọng góp phần thu hẹp khoảng cách giữa miền núi và đồng bằng

Phó TBT Báo ĐBND Lê Thanh Kim: Tín dụng chính sách đã góp phần tích cực trong việc thực hiện mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội. Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giai đoạn 2005 – 2017 đã giảm từ 22% xuống dưới 7%; đặc biệt là giảm nghèo ở vùng đồng bào DTTS. Tín dụng chính sách cũng tạo nguồn lực giúp các địa phương khai thác tiềm năng, thế mạnh để phát triển đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái. Tín dụng chính sách không chỉ giúp đồng bào DTTS có vốn để SXKD, giảm nghèo, từng bước vươn lên làm giàu mà còn giúp cho đồng bào làm quen với việc vay vốn, nâng cao trình độ quản lý vốn, cũng như trình độ SXKD.

Có thể nói rằng, tín dụng chính sách là một trong những nguồn lực quan trọng góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa nông thôn với miền núi

Về tổng quan kết quả chung của cả nước là vậy, còn cụ thể với Gia Lai thì sao? Nguồn vốn tín dụng chính sách có vai trò, ý nghĩa như thế nào đối với địa phương? Và việc thực hiện tín dụng chính sách tại tỉnh nhà còn khó khăn gì? Thưa ông Rơ Mah Tuân?

ĐBQH tỉnh Gia Lai Rơ Mah Tuân: Gia Lai là một tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao so với bình quân chung của cả nước, tính đến cuối năm 2017 tỷ lệ hộ nghèo chiếm 13,34%, trong đó số hộ nghèo người đồng bào DTTS chiếm tới 86,5%. Việc giảm tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào DTTS còn nhiều khó khăn, kết quả giảm nghèo chưa thật bền vững, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, ổn định an ninh chính trị trên địa bàn tỉnh. Cùng với các chương trình chính sách xã hội, thì chương trình tín dụng chính sách của Chính phủ cũng là kênh rất quan trọng, là kênh vốn, nguồn lực giúp cho địa phương giảm nghèo có hiệu quả. Giúp cho đồng bào tiếp cận được nguồn vốn tín dụng chính sách đề đầu tư phát triển sản xuất, tự lực vươn lên phát triển kinh tế, nâng cao trình độ sản xuất đời sống vật chất của đại bộ phận người dân, đặc biệt đối với đồng bào  DTTS tiến tới mục tiêu xóa đói, giảm nghèo.

ĐBQH tỉnh Gia Lai Rơ Mah Tuân

ĐBQH tỉnh Gia Lai Rơ Mah Tuân

Để phát triển bền vững, góp phần giữ vững an ninh của tỉnh, nhất là khu vực biên giới, vùng đặc biệt khó khăn, hiện nay tỉnh Gia Lai thực hiện 13 chương trình tín dụng chính sách, trong đó có 12 chương trình tín dụng có đối tượng là đồng bào DTTS thụ hưởng và có 3 chính sách tín dụng dành riêng cho đồng bào DTTS. Với kết quả dư nợ các chương trình chính sách tín dụng tính đến 30/4/2018 đạt trên 4.000 tỷ đồng và với hơn 140.000 hộ vay, trong đó dư nợ người DTTS chiếm 50% trong số vay này. Nhiều hộ  DTTS vay vốn từ 2 – 3 chương trình tín dụng chính sách, đã góp phần giải quyết những vấn đề căn bản nhà ở, công trình vệ sinh sinh, nước sạch, hỗ trợ kinh phí học tập, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

Qua hơn 10 năm thực hiện Chương trình chính sách tín dụng, từ 2007 đến nay, nguồn vốn tín dụng chính sách đã đến với tất cả các thôn làng ở Gia Lai và tác động toàn diện tới mọi mặt đời sống của bà con đồng bào DTTS, góp phần phát triển kinh tế – xã hội vùng đặc biệt khó khăn. Hiệu quả mang lại từ nguồn vốn này đã giúp cho hơn 75.000 hộ DTTS thoát nghèo; thu hút và tạo việc làm cho hơn 20.365 lao động; tạo điều kiện cho hơn 4.800 HSSV có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập và xây dựng hơn 9.000 căn nhà cho hộ nghèo; 26.000 công trình cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn… Có thể nói vốn tín dụng chính sách đã hỗ trợ để phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm cũng như tăng thu nhập, từng bước cải thiện cuộc sống, góp phần vào công tác giảm tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh từ 3 – 4%/ năm…

Năm 2003, vợ chồng tôi cũng được vay từ chính sách này. Là người người trong cuộc, tôi thấy có những khó khăn như: Về khách quan,  DTTS sống ở khu vực không có điều kiện, khí hậu thời tiết, thiên tai, ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất, chăn nuôi của bà con. Ví dụ các khu vực vùng biên, vùng đặc biệt khó khăn, biến đổi khí hậu, nước cho người còn không có nữa là cho trâu, bò ăn. Trong khi đó, các nguồn vốn cho vay chủ yếu để đồng bào phát triển chăn nuôi là chủ yếu… Về chủ quan, trình độ dân trí của đồng bào dân tộc thực tế còn rất thấp. Thực tế có câu chuyện, đồng bào vay vốn nhưng không dám tiêu, trình độ dân trí ảnh hưởng trực tiếp đến việc sắp xếp sản xuất. Bên cạnh đó, phong tục tập quán của đồng bào cũng ảnh hưởng rất lớn đến xóa đói giảm nghèo. Chỉ lấy ví dụ riêng về hủ tục ma chay, trong nhà có bao nhiêu con lợn, gà, vịt làm thịt hết, đập cả ti vi, xe máy mà người chết mua để chôn chung người chết. Thực tế, phong tục tập quán ở Gia Lai còn nhiều, đã tác động ghê gớm trong việc hạn chế tính hiệu quả của tín dụng chính sách ở đồng bào DTTS.

Phó TBT Báo ĐBND Lê Thanh Kim: Tại Hội nghị tổng kết thực hiện tín dụng chính sách đối với đồng bào DTTS tỉnh Lai Châu vừa được tổ chức, con số được đưa ra là 44.977 hộ đồng bào DTTS được vay vốn trong chương trình tín dụng chính sách với dư nợ lên đến gần 1.600 tỷ đồng. Cụ thể về vấn đề này như thế nào? Vai trò của nguồn vốn tín dụng đối với giảm nghèo bền vững vùng đồng bào DTTS ở địa phương ra sao? Chúng tôi muốn được nghe ý kiến của ông Tống Thanh Bình – Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu.

Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu Tống Thanh Bình: Lai Châu là tỉnh vùng cao biên giới phía Bắc, với 8 đơn vị hành chính (7 huyện và 1 thành phố). Trong 8 đơn vị hành chính thì có tới 6 huyện nghèo, với 62/182 xã đặc biệt khó khăn. DTTS chiếm gần 86% dân số toàn tỉnh, trong đó có 3/20 dân tộc đặc biệt khó khăn chỉ có ở Lai Châu (dân tộc Mảng, La Hủ, Cống), dân tộc Kinh chỉ chiếm 4%. Trong những năm qua nhờ sự hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, nguồn vốn tín dụng chính sách đã được triển khai đồng bộ trên toàn tỉnh với mô hình đặc thù là xây dựng mạng lưới điểm giao dịch tại 100% xã, phường, thị trấn. Qua đó, góp phần đưa nguồn vốn tín dụng Nhà nước đến tận tay người thụ hưởng bảo đảm tính nhanh chóng, thuận lợi và thông suốt, bảo đảm công khai minh bạch, theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Tính đến ngày 31/3/2018, hoạt động tín dụng của NHCSXH tỉnh Lai Châu đã thực hiện cho vay đối với 13 chương trình, dư nợ đạt trên 1.800 tỷ đồng, tỉ lệ nợ quá hạn và nợ quá hạn thấp chỉ chiếm khoảng 0,3% với số khách hàng còn dư nợ là 48.874 khách hàng. 100% các dân tộc trên địa bàn toàn tỉnh đều được thụ hưởng các chương trình tín dụng ưu đãi. Nguồn vốn cho vay đối với hộ đồng bào DTTS, nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây ăn quả, mua máy móc và công cụ sản xuất, các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường, tạo việc làm mới, xây dựng nhà mới… Qua thực hiện cho thấy, vốn tín dụng ưu đãi đã thực sự giúp hộ nghèo, hộ chính sách nâng cao thu nhập, tăng năng suất lao động, cải thiện đời sống, góp phần tăng trưởng kinh tế, giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn từ 5 – 7%, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng của địa phương.

Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu Tống Thanh Bình (bên phải)

Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu Tống Thanh Bình (bên phải)

Về vai trò cụ thể của vốn tín dụng đối với giảm nghèo bền vững vùng đồng bào DTTS, tôi xin đánh giá với 2 nội dung:

Thứ nhất, về tác động nhận thức, qua vận động, đẩy mạnh tuyên truyền và quá trình triển khai thực hiện cho thấy, nhận thức của các hộ nghèo đã có sự thay đổi tích cực, đã biết sử dụng nguồn vốn vay, tính toán hiệu quả hoạt động sản xuất trong phát triển kinh tế hộ gia đình, giảm dần tính trông chờ ỷ lại, giúp đồng bào DTTS tự tin, tăng dần vị thế trong xã hội. Những năm gần đây, bà con nhân dân đã có sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, xây dựng kế hoạch để sử dụng nguồn vốn vay của mình và có trách nhiệm hơn đối với hiệu quả vay vốn, kết quả thu được cũng khả quan.

Thứ hai, về phát triển kinh tế nâng cao chất lượng cuộc sống, nguồn vốn tín dụng chính sách đã bổ sung nguồn lực hỗ trợ địa phương khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng. Cụ thể như, phát triển các mô hình sản xuất tập trung như chăn nuôi đại gia súc, trồng trọt và bảo vệ khoanh nuôi tái sinh rừng, phát triển lâm sản ngoài gỗ, đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, giúp đồng bào DTTS phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, giảm chênh lệch trong phát triển vùng DTTS với các vùng khác. Nhờ được tiếp cận với các nguồn vốn chính sách, hộ đồng bào DTTS đã yên tâm hơn, không còn hiện tượng du canh du cư, khẳng định chủ trương về nguồn vốn đã góp phần tác động rất lớn để tạo nên kết quả ngày hôm nay, giúp bà con thoát nghèo, từng bước thoát nghèo bền vững.

Phó TBT Báo ĐBND Lê Thanh Kim: Thưa ông Bùi Văn Lịch, nhìn từ góc độ cơ quan quản lý, ông đánh giá thế nào về vai trò của tín dụng chính sách đối với giảm nghèo bền vững, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và đồng bằng?

Vụ trưởng Vụ Chính sách dân tộc – Ủy ban Dân tộc Bùi Văn Lịch: Tín dụng chính sách là một chính hết sức quan trọng, có hiệu quả trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững cho vùng nghèo cả nước nói chung và các hộ đồng bào dân tộc nghèo, thiểu số. Tôi cũng nhất trí với một số ý kiến đại biểu vì công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội không chỉ là vấn đề động lực chính, mà nằm trong tác động đồng bộ. Tôi muốn đi cụ thể hơn vào những tác động trực tiếp với những đồng bào DTTS.

Thứ nhất, tín dụng chính sách hỗ trợ thúc đẩy phát triển sản xuất, thông qua đó thoát nghèo, có thể tiến tới giảm nghèo bền vững. Có tín dụng chính sách, đồng bào có thêm tiền vốn để mua thêm giống mới, mua thêm phân bón, thuốc trừ sâu, chăm sóc tốt hơn. Hộ chăn nuôi có điều kiện đầu tư chuồng trại, không chỉ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp mà còn thêm vốn để mở các dịch vụ tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống. Tóm lại, hỗ trợ rất tích cực cho đồng bào DTTS phát huy những trong điều kiện cụ thể để phát triển sản xuất, tiến tới giảm nghèo. Đây là một tác động rất rõ nét.

Thứ hai, tín dụng chính sách tác động về thay đổi nhận thức, thay đổi thói quen, bắt đầu đã phải nghĩ đến sử dụng đồng vốn có hiệu quả, tiếp cận giống mới, tiếp cận kinh nghiệm làm ăn mới, tiếp cận với thị trường để đảm bảo đầu ra. Điều này có vai trò tác động rất quan trọng, thông qua đó gián tiếp tác động cơ cấu cây trồng vật nuôi, thay đổi cơ cấu lao động trong nông thôn, vùng đồng bào DTTS.

Thứ ba, chúng tôi đánh giá tín dụng chính sách đặc biệt quan trọng tại khu vực Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Hiện tượng đồng bào thiếu vốn làm ăn cho nên “bán lúa non”, tức là bán sản phẩm sớm chưa kịp thu hoạch, thậm chí gán đất đai, tài sản của mình để vay vốn (hay còn gọi là tín dụng đen). Tác hại của “tín dụng đen” với người nghèo nói chung và đồng bào DTTS rất ghê gớm, nhiều trường hợp mất đất sản xuất, thậm chí mất nhà và tài sản quý giá khác do tác động tín dụng đen. Chính vì vậy, chính sách tín dụng này giảm thiểu tác động của tín dụng đen rất nhiều.

Phó TBT Báo ĐBND Lê Thanh Kim: Thưa ông Bùi Sĩ Lợi, qua các cuộc giám sát, các cuộc làm việc với bộ, ngành liên quan và qua những lần tiếp xúc với cử tri vùng đồng bào  DTTS ông có thể bình luận về nhận định, tín dụng chính sách một nguồn lực, hay có thể gọi cú hích quan trọng góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển miền núi và đồng bằng?

Ông Bùi Sĩ Lợi: Cơ chế chính sách không bao giờ cố định, bao giờ nó cũng biến động khi kinh tế – xã hội thay đổi, điều kiện thay đổi, nguồn lực thay đổi. Vì vậy tôi cho rằng, đầu tiên chúng ta phải thay đổi cơ chế chính sách theo từng thời kỳ, từng đặc điểm của vùng miền để quyết định mục tiêu của. Chính phủ cũng đã rất linh hoạt trong việc thay đổi mức vay, diện vay, thời hạn vay, lãi suất vay… trong từng thời điểm khác nhau. Còn để thu hẹp dần khoảng cách tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo, chúng ta phải tính được có bao nhiêu hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ vừa thoát nghèo. Thứ hai, chúng ta phải tính toán lại mức vay, với tổng nguồn vốn mà chúng ta đang có thì cần phải nâng cái mức vay lên. Thứ ba, lãi suất phải linh hoạt, chúng ta không “cho không”, không có lãi suất bằng 0, nhưng cũng không có nghĩa rằng các vùng có lãi suất như nhau.

Về vấn đề thoái vốn, nếu chúng ta dựa hoàn toàn vào ngân sách Nhà nước chắc chắn sẽ ngày càng khó hơn, không thể có nguồn bổ sung thêm như trước đây vì còn phải thực hiện các mục tiêu phát triển khác. Cho nên, các địa phương cũng phải huy động nguồn vào. Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại tiếp tục dành nguồn vốn để tham gia vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của đất nước. Tôi kiến nghị, NHCSXH cần có đủ thẩm quyền để huy động cho vay, bởi việc này hoàn toàn có khả năng.

Như vậy bài toán của chúng ta là phải nghiên cứu điều chỉnh chính sách linh hoạt, không nên cố định. Vấn đề này Chính phủ cần nghiên cứu và đề xuất với Quốc hội.

Phó TBT Báo ĐBND Lê Thanh Kim: Vâng thưa ông Nguyễn Văn Lý, ông đánh giá như thế nào về vấn đề ông Bùi Sĩ Lợi vừa nêu?

Phó Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Lý: Vấn đề ông Bùi Sỹ Lợi – là một ĐBQH đặt ra rất đúng. Vừa rồi NHCSXH được sự chỉ đạo của Chính phủ, trước mức cho vay mỗi hộ là 2,5 triệu đồng nhưng giờ nâng lên thành 50 triệu đồng. Hiện các chương trình cho các hộ nghèo, đồng bào DTTS nhiều hơn. Hiện nay các chương tình tín dụng chính sách cho đồng bào hộ nghèo nói chung và đồng bào DTTS nói riêng đang tác động đa chiều: nhà ở, nước sạch… Tuy nhiên, tôi cho rằng như vậy là chưa nhiều, bởi lẽ vốn Chính phủ ít nên chỉ tác động vào một số mặt chính. Mỗi hộ có nguyên nhân nghèo khác nhau, nên các chương trình này khác nhau.

Tín sách tín dụng cho riêng vùng miền là khó khăn. Nếu cho rằng vùng DTTS ở Tây Nguyên đầu tư cây công nghiệp cần vốn nhiều nhưng ở vùng Tây Bắc ven biển cũng cần vốn. Chính phủ đang thiết kế theo hướng, vốn chính sách của Chính phủ là chung, còn vùng đặc biệt thì do vốn địa phương bỏ. Hiện ngân sách địa phương đang chuyển sang NHCSXH khoảng 10.800 tỷ đồng.

Hiện chúng tôi đang xây dựng mô hình người vay vốn tập trung một mối vào Chủ tịch UBND xã. Toàn bộ vốn đưa về xã, chủ tịch UBND xã điều phối vay, hộ nào vay trước, hộ nào vay sau, vay sản xuất cây, con gì thì được kết hợp trong việc xây dựng nông thôn mới… Trong xây dựng nông thôn mới, đang thực hiện xây dựng hợp phần chuyển giao KHKT và định hướng tiêu thụ sản phẩm. NHCSXH gắn vốn này với xây dựng nông thôn mới thì độ an toàn cao hơn, tất cả tập trung vào vai trò của Chủ tịch UBND xã.

Giảm nghèo bền vững vùng đồng bào DTTS – Dân vẫn đói vốn

Phó TBT Báo ĐBND Lê Thanh Kim: Dù có đánh giá tích cực đến đâu về tín dụng chính sách xã hội, các đại biểu đều cho rằng, chúng ta chưa thể và không thể bằng lòng với thành tựu giảm nghèo những năm qua. Người nghèo, hộ cận nghèo của cả nước, đặc biệt vùng đồng bào DTTS còn cao. Điều này đang đặt ra đổi mới trong chính sách giảm nghèo, không chỉ phát huy hơn nữa hiệu quả vốn chính sách, mà còn tạo nguồn lực mới, xung lực mới duy trì và mở rộng thành quả đạt được ở một tầm cao mới, tiếp tục nâng cao đời sống của đồng bào DTTS.

Thưa ông Nguyễn Lâm Thành, thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới trong chính sách giảm nghèo. Vậy theo ông có cần thay đổi, bổ sung những chính sách gì để hoạt động tín dụng chính sách thực sự hiệu quả đối với vùng khó khăn, vùng đồng bào DTTS?

Ông Nguyễn Lâm Thành: Hiện nay, chính sách tín dụng là để phát triển, để phục vụ sản xuất hàng hóa cho nên cách tiếp cận chúng ta phải xử lý lại. Có mấy điểm tôi đề nghị:

Thứ nhất, chính sách tín dụng của ta hiện nay riêng mảng tín dụng thôi chúng ta cơ cấu rất nhiều chính sách và cần phải hợp nhất lại các văn bản vảo một vài chính sách chính thôi để đồng bộ. Thứ hai, về đối tượng thì có hai vấn đề là đối tượng vay vốn phải xử lý lại. Ngay câu chuyện là các đối tượng nghèo cứ thay đổi liên tục cũng là một vấn đề khó khi NHCSXH cho vay vốn. Chúng ta không nên quá phân biệt giữa hộ nghèo và hộ cận nghèo mà nên cho họ một nhóm chung để hỗ trợ lẫn nhau. Trên thực tế, nếu chúng ta phân biệt như vậy thì thực tế ở các cộng đồng cũng sẽ tạo nên một tâm lý trong việc thực hiện chính sách cũng như phối hợp lẫn nhau giữa hộ nghèo và hộ cận nghèo. Thứ ba, liên quan đến phân định giữa các vùng khó khăn, đây là vấn đề lớn mà sắp tới Chính phủ cũng phải giải quyết, là cơ sở để cơ cấu lại hệ thống chính sách dành cho đồng bào dân tộc cho phù hợp, chứ hiện nay rất dàn trải dẫn đến thiếu nguồn lực.

Một điểm nữa mà tôi muốn đề nghị đó là chính sách tín dụng cho các vùng phải được phân định một cách tương đối, đối với các vùng khác nhau có những quy định đặc thù. Liên quan đến cách thức tổ chức thực hiện, một trong những vấn đề khiếm khuyết đặt ra trong quá trình triển khai thực hiện chính sách tín dụng vừa qua ảnh hưởng đến hiệu quả là việc đưa các hỗ trợ khuyến nông khuyến lâm và tiến bộ KHKT để kết hợp cùng với một phương án phụ cấp cùng với tín dụng chúng ta làm chưa được tốt. Cho nên cơ quan quản lý Nhà nước, đặc biệt là chính quyền địa phương phải định hướng các ngành hàng sản xuất cho người dân để người dân làm theo. Chúng ta đừng nghĩ rằng người dân nghĩ ra để làm trước, phải cầm tay chỉ việc, phải nghĩ cho họ, cùng với người dân định hướng trước. Tôi nghĩ rằng, khi đã có được khả năng sản xuất hàng hóa có lợi thì người dân sẵn sang chủ động vay vốn để làm chứ không cần chúng ta vận động.

Chúng ta chưa làm được việc mở đường cho người dân, sắp tới chúng ta phải làm cái đó. Vai trò của ngành nông nghiệp để hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm phải đi trước định hướng cho người dân liên quan đến cả giống cây trồng vật nuôi. Thứ hai là vấn đề tổ chức vay vốn, vừa qua chúng ta cũng thiết lập được mạng lưới khá tốt từ các tổ chức chính trị xã hội, nhưng hiện nay cũng có sự phân tán. Cho nên tôi đề nghị cần có sự phối hợp trong việc tổ chức chỉ đạo vay vốn cũng như hỗ trợ các hộ gia đình trong việc tư vấn về mặt kỹ thuật cũng như quản lý.

Cuối cùng là nguồn vốn ở đâu? Vẫn đói vốn. Có thể nói là vốn hiện nay cấp cho vùng DTTS, miền núi không phải là ít, đặc biệt là chính sách “cho không” rất nhiều nhưng thực chất có một số nội dung chưa thực sự hiệu quả. Cho nên cần mạnh dạn cơ cấu để chuyển lại những nguồn “cho không” sang cho vay hoặc cho vay với 2 mức: không lãi hoặc vay lãi suất thấp. Tôi cho rằng, có một mức lãi suất nhất định nào đấy để tạo trách nhiệm cũng như khuyến khích được người dân tốt hơn. Như vậy chúng ta mới có thể có được nguồn vốn tốt cho tín dụng được, đặc biệt là làm chuyển biến ý thức của người dân, giảm sự ỷ lại. Tôi kiến nghị, Ủy ban  Dân tộc, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội cũng cần có chung tiếng nói trong việc mạnh dạn cơ cấu lại chính sách, cái gì “cho không” không thực sự hiệu quả đề nghị Chính phủ bãi bỏ. Bên cạnh đó, tạo điều kiện thuận lợi cho NHCSXH thực hiện tốt hơn chính sách tín dụng trong thời gian tới.

Phó TBT Báo ĐBND Lê Thanh Kim: Có thể nói, tín dụng chính sách là một trong những nguồn lực qua trọng, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa nông thôn và miền núi. Vậy thưa ông Rơ Mah Tuân, từ thực tiễn ở địa phương mình, ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

Ông Rơ Mah Tuân: Về vấn đề vốn, từ thực tiễn thực hiện chính sách tại địa phương, tôi thấy có 2 vấn đề:

Thứ nhất, như tôi đã nói ở trên, Gia Lai là một trong những địa phương có tỷ lệ hộ nghèo cao, trong đó chủ yếu là đồng bào DTTS. Tuy nhiên, vấn đề vốn chỉ là vấn đề tỷ lệ thuận với nguồn vốn thực hiện chương trình tín dụng chính sách. Thực tế, trong hơn 10 năm qua, với sự vào cuộc của chính quyền địa phương các cấp, các tổ chức đoàn thể xã hội… chương trình tín dụng chính sách cho đồng bào vay vốn đã góp phần thay đổi nếp nghĩ, cách làm của bà con. Rất nhiều chuyển đổi nhận thức của bà con, và việc còn tỷ lệ hộ nghèo hiện nay đồng nghĩa với đói vốn. Qua tiếp xúc cử tri, bà con có ý kiến về vốn vay còn thấp nên hiệu quả còn hạn chế…

Thứ hai, nguồn vốn phân bổ còn chậm, chưa kịp thời, đơn cử như đối với Chương trình cho đồng bào DTTS vay theo Quyết định 2085/QĐ-TTg đến nay địa phương chúng tôi chưa được phân bổ… Do vậy, tôi cho rằng nguồn vốn cần phải được nâng lên, số tiền cho người dân vay cần tăng lên để người dân có thể có điều kiện mở rộng, nâng quy mô, phát triển sản xuất, chăn nuôi. Có như vậy thì chương trình cho vay mới hiệu quả, tránh chuyện cho vay xong, vì ít quá không đủ trang trải để trồng cây cao su, vườn cà phê, để rồi sau đó họ lại sẵn tiền tiêu xài, nợ vẫn hoàn nợ, như vậy rõ ràng việc cho vay không đạt hiệu quả.

Phó TBT Lê Thanh Kim: Ý kiến của ông về vấn đề trên ra sao, thưa ông Tống Thanh Bình?

Ông Tống Thanh Bình: Diện vay hiện nay qua thực tế cho thấy về cơ bản là phù hợp, đúng đối tượng thụ hưởng nền cần tiếp tục duy trì. Về mức cho vay, theo dõi thực tế về 13 chính sách cho vay trên địa bàn tỉnh Lai Châu, tôi thấy mức cho vay tối đa của một số chương trình tín dụng chính sách còn thấp, chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tế, không đủ đầu tư sản xuất kinh doanh khi có biến động về giá cả thị trường. Ví dụ như chương trình cho vay vốn để thực hiện chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (6 triệu đồng/công trình nước sạch và công trình vệ sinh) còn rất thấp, cho vay sản xuất kinh doanh 50 triệu đồng/hộ, cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn 1,5 triệu đồng/sinh viên/tháng trước đây có thể phù hợp nhưng tình hình hiện nay là chưa thực sự bảo đảm đủ để thực hiện. Tôi đề nghị xem xét tăng định mức cho vay, cần có những Hội nghị sơ kết, tổng kết đánh giá, từ đó xác định đối tượng vay thế nào cho phù hợp.

Thời gian cho vay tối đa 60 tháng ở một số chương trình tín dụng chính sách là vẫn còn ngắn so với khả năng trả nợ của hộ vay và đối tượng vay. Tại Lai Châu, đối tượng vay thường là trung và dài hạn để chăn nuôi đại gia súc sinh sản, trồng cây công nghiệp, cây lấy gỗ… Vậy nên tôi đề nghị xem xét theo hướng tăng thời hạn cho vay với các công trình chính sách hỗ trợ hoạt động sản xuất.

Phó TBT Báo ĐBND Lê Thanh Kim: Còn ý kiến của ông thế nào, thưa ông Thạch Phước Bình?

Ông Thạch Phước Bình: Có thể nói, chính sách tín dụng đối với đồng bào DTTS có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, đã đạt được hiệu quả thiết thực, góp phần giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh như đã nêu trên, đặc biệt là đảm bảo an sinh xã hội ở vùng dân tộc. Nguồn vốn tín dụng ưu đãi cơ bản đáp ứng được nhu cầu của nhân dân, tuy nhiên, nguồn vốn hiện nay so với nhu cầu chưa đáp ứng đủ. Cùng với phương thức ủy thác thông qua các tổ chức chính trị – xã hội với thủ tục đơn giản đã làm cầu nối để người nghèo, các đối tượng chính sách ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTSS dễ dàng tiếp cận với các nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước tại 100% Điểm giao dịch xã của NHCSXH. Thủ tục cho vay đơn giản, mức vay đáp ứng nhu cầu từng đối tượng, thời gian cho vay dài, lãi suất thấp, đối tượng vay không phải thế chấp tài sản… hoạt động tín dụng của NHCSXH được đại đa số hộ nghèo, đồng bào DTTS nhiệt tình hưởng ứng.

Trong điều kiện huy động nguồn vốn còn khó khăn, tuy nhiên, trong vấn đề phân bổ thì để tiếp tục phát huy vai trò, hiệu quả của chính sách tín dụng đối với đồng bào DTTS, từ thực tiễn của địa phương, tôi kiến nghị Trung ương:

Thứ nhất, tiếp tục bố trí nguồn vốn Nhà nước thực hiện tín dụng chính sách. Tuy trong bố trí khó khăn, nhưng tôi đề xuất không bố trí dàn đều, nên xem xét thật kĩ chứ nếu so sánh vùng miền sẽ khó, nếu bố trí dàn đều thì rõ ràng rất khó. Do đó, trong bố trí nên tính toán sao cho phù hợp, đặc biệt là so với nhu cầu chứ không phải địa phương này với địa phương khác do cùng miền Tây Nam Bộ nên bố trí giống nhau thì điều này không hợp lý.

Thứ hai, vấn đề phát huy nguồn vốn ở các địa phương đặc biệt là ngân sách các địa phương cho nguồn vốn NHCSXH, trên địa bàn tỉnh cũng đã thực hiện cũng đã bố trí nguồn vốn mấy năm nay. Tuy nhiên, nguồn vốn này do điều kiện còn khó khăn cho nên cũng rất ít, do đó, đề nghị Đảng, Nhà nước, đặc biệt là NHCSXH tiếp tục tham mưu cho Chính phủ, có chỉ đạo quyết liệt hơn, đặc biệt là thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư, cũng như Quyết định 401/QĐ-TTg, có chỉ đạo quyết liệt hơn để các địa phương có điều kiện để góp nguồn vốn này cho NHCSXH.

Thứ ba, để giải quyết, đặc biết vấn đề đói vốn hoặc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn tín dụng chính sách, trong thời gian tới, Uỷ ban Dân tộc cần tham mưu cho Chính phủ, chúng ta có một đánh giá, hoặc văn bản chỉ đạo hướng dẫn vấn đề lồng ghép giữa nguồn vốn thực hiện chính sách của NHCSXH và các nguồn vốn thực hiện chương trình chính sách dân tộc khác và các nguồn vốn của chương trình mục tiêu quốc gia. Tuy nhiên, qua theo dõi tôi chưa thấy có hướng dẫn này, tức là lồng ghép như thế nào. Đặc biệt, qua vấn đề thực hiện chính sách, đề xuất nên có đánh giá, mặc dù NHCSXH có dự kiến đi làm việc với khu vực Tây Nam Bộ có tiến hành hội thảo liên quan đến vấn đề này, do đó tôi đề xuất đánh giá xem nó có hiệu quả của chính sách tín dụng này đối với đồng bào dân tộc, đặc biệt là dân tộc Khmer. Ủy ban Dân tộc cũng đã thực hiện đề xuất với Chính phủ đánh giá lại chính sách đối với đồng bào Khmer ở Đông Nam Bộ, ĐBSCL, như vậy lồng ghép trên chúng ta có một đánh giá  chung. Và tôi đề xuất ở phần đánh giá này thì phải đánh giá theo khu vực. Thời gian tới, chúng ta cần xem xét lại các chính sách tín dụng cho phù hợp, diện vay, thời gian vay, mức vay thì có linh hoạt. Hiện nay, tôi thấy là mức vay được nâng lên và diện vay được mở rộng. Đặc biệt, bà con đồng bảo DTTS đều tăng, đối với tỉnh Trà Vinh bà con đề xuất mức vay đối với xây nhà ở ổn định lên từ từ 5 triệu đồng lên 40 – 50 triệu đồng. Vốn nước sạch vệ sinh nông thôn từ 6 triệu đồng lên 12 triệu đồng. Tuy hiện nay vốn rất khó khăn nhưng đây là nguyện vọng của người dân. Cố gắng để đảm bảo nguồn vốn và theo tính chất vùng miền cho phù hợp như chúng ta nói ban đầu nguồn lực là cú hích để cho đồng bào phát triển.

Phó TBT Báo ĐBND Lê Thanh Kim: Thưa ông Nguyễn Văn Lý, ông nhận định thế nào về ý kiến của ông Tống Thanh Bình và ông Thạch Phước Bình vừa nêu?

Ông Nguyễn Văn Lý: Về việc bố trí nguồn vốn cao hay thấp, thường từ nguồn vốn bố trí mới biết mức cho vay cao hay thấp. Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư… nắm được các chương trình này để cân đối lại. Xung quanh nguồn vốn bố trí này, cách đây 1 năm đã được Quốc hội bố trí. Chúng tôi và Ủy ban Dân tộc đã khảo sát và tổ chức Hội thảo quốc gia và sắp tới chúng tôi sẽ tổng kết 3 tỉnh có nhiều đồng bào DTTS nhất: An Giang, Sóc Trăng và Trà Vinh. Đồng bào dân tộc vùng Tây Nam Bộ có đặc trưng gì, tín dụng chính sách ra sao… Riêng đồng bào DTTS nghèo thống nhất như các ý kiến vừa nêu trên là nên nâng mức hạn trần lên. Chúng tôi mới manh nha ý tưởng do đó, tổ chức hội thảo lấy ý kiến rồi mới kiến nghị Chính phủ.

Có thể nói, tín dụng chính sách đối với đồng bào DTTS có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, đã đạt được hiệu quả thiết thực, góp phần giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội tại các địa phương, đặc biệt là bảo đảm an sinh xã hội ở vùng DTTS và miền núi, vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn, góp phần giúp đồng bào các dân tộc thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và cùng chung sức xây dựng, phát triển đất nước. Kết quả này đã được Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành và đặc biệt là đông đảo quần chúng ghi nhận, đánh giá cao.

Thông qua sử dụng vốn tín dụng ưu đãi đã tác động để chuyển biến về nhận thức, giúp đồng bào DTTS tự tin, từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững. Thêm vào đó, thông qua mô hình tổ chức và phương thức chuyển tải vốn tín dụng ưu đãi của NHCSXH (chính quyền địa phương xác nhận về đối tượng; các tổ chức hội, đoàn thể nhận ủy thác; Tổ tiết kiệm và vay vốn quản lý nợ), đã góp phần là “cầu nối” giữa cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp với quần chúng nhân dân, đặc biệt là với khối đồng bào DTTS; qua đó, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng tại các địa phương.

Những thông điệp về phân tích chính sách dưới góc nhìn của các nhà lập pháp, nhà quản lý và đại diện các địa phương giúp làm rõ hơn các giải pháp nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn và sử dụng vốn cho hộ nghèo, cận nghèo vùng đồng bào DTTS, góp phần giảm nghèo và phát triển vùng đồng bào DTTS; thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và đồng bằng.

PV

Ý KIẾN ĐỘC GIẢ

Các tin bài khác